PDA

View Full Version : Mạn đàm Tam Quốc



LonelySoul
03-02-2009, 11:53 PM
Dạo này chơi Linh Vương nên cũng tìm hiểu một chút :D Nhưng cái này thì hơi sock :-<


Gia Cát Lượng đã mượn đao giết Quan Vũ? (Phần I)


Lâu nay người ta vẫn coi Khổng Minh như một biểu tượng của của tài trí, mưu lược và cả sự chính nghĩa. Thực tế, trong cách nhìn mang tính lịch sử, Khổng Minh trước hết vẫn là một kẻ làm chính trị đúng theo nghĩa thực của từ này. Tại sao Khổng Minh bái Lưu Bị làm chủ? Lý do hẳn đã vì nhà Hán? Tại sao Khổng Minh thấy Quan Vũ chết mà không một binh một tốt cứu viện?... Vẫn còn rất nhiều sự kiện lịch sử khiến hậu nhân phải nghi ngờ. Bài viết dưới đây của giáo sư Chu Tử Ngạn là một cách lý giải khác về những sự kiện lịch sử còn đầy những tồn nghi đó.

Chọn Lưu Bị, Khổng Minh vì mình trước nhất?


http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/9/2008/06/80604giacatluong2.jpg


Gia Cát Lượng ở Long Trung, tự xưng mình “chỉ mong bảo toàn tính mệnh thời loạn, chẳng cầu tiếng tăm nơi chốn chư hầu” (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện), nhưng thực ra lại là kẻ lòng mang đầy chí lớn. Từng nói với Mạnh Thao, Từ Thứ, Mạnh Kiến rằng: “Ba người ắt làm quan tới thích sử, quận thú vậy”. Khi đó ba người bèn hỏi Gia Cát Lượng làm quan tới bậc nào? Lượng chỉ cười mà không đáp (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện” chú dẫn Ngụy lược). Cười mà không đáp là cớ gì? Bởi quan là thích sử hay quận thú đều không ở trong mắt của Lượng, trí lớn sao đã vội có thể nói cho người khác nghe được.

Gia Cát Lượng có tài kinh luân tế thế “Mỗi lần đều tự sánh mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị” (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện). Tuy nhiên Quản, Nhạc vốn chưa phải là người kiến công cái thế, làm quan chẳng qua cũng chỉ là tướng dưới tay chư hầu mà thôi. Gia Cát Lượng chí cao, tự sánh với Quản, Nhạc cũng có thể chỉ đơn thuần là mục tiêu nhỏ. Nếu lấy tình thế đương thời mà xét, cũng không loại trừ khả năng Gia Cát Lượng cũng có trí tranh đoạt thiên hạ, hùng tâm xây dựng nghiệp bá.

Những năm cuối Đông Hán, triều cương hỗn loạn, các chư hầu tranh nhau khởi binh. Xưng cô, gọi quả (xưng đế, xưng vương) cũng chẳng ít. Tào Tháo, Viên Thiệu, Tôn Sách, Tôn Quyền, Lưu Bị đều mang trong mình chí lớn quét sạch bốn bể mà thống nhất thiên hạ. Chẳng lẽ Gia Cát Lượng lại không bằng họ? Chẳng lẽ chỉ có thể làm thần tử mà không thể xưng vương?

Đáng tiếc ở chỗ, Gia Cát Lượng xuất sơn quá muộn (So với Tào Tháo, Viên Thiệu, Lưu Bị thì muộn hơn ít nhất hai mươi năm). Gia Cát Lượng chưa rời khỏi Long Trung “Tào Tháo đã có bách vạn hùng binh, ép thiên tử mà lệnh chư hầu, Tôn Quyền đã đóng ở Giang Đông tới ba đời, thế nước hiểm mà lòng dân thì theo, lại được hiền tài phò tá” (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện). Những thế lực quân phiệt khác như Lưu Biểu thì nắm Kinh Châu, “đất dài ngàn dặm, mang binh giáp hơn mười vạn” (Ngụy Thư - Lưu Biểu truyện), Lưu Chương chiếm cứ Ích Châu, Chương Lỗ giữ Hán Trung, Mã Đằng, Hàn Toạn xưng hùng ở Quan Trung.

Mười ba châu của nhà Hán đã bị các lộ chư hầu chiếm cứ hết, Gia Cát Lượng đã mất đi cơ hội để độc bá một phương tự xưng chư hầu. Lòng mang tài kinh bang tế thế, để có thể xưng nghiệp vương bá như Gia Cát Lượng nếu muốn leo lên đỉnh cao của quyền lực, con đường duy nhất chỉ có thể là chọn chủ mà phục vụ. Đây đối với Gia Cát Lượng cũng chính là lùi để mà tiến. Điều này, Lượng cũng như Tư Mã Ý, thờ chủ thực tế cũng chỉ là một thủ đoạn để thực hiện mục tiêu chính trị của mình thôi.

Điều đáng nói ở đây chính là tiêu chuẩn của chủ mà Gia Cát Lượng chọn là gì? Tôi cho rằng, Gia Cát Lượng chọn chủ không ngoài 2 điều: Một là chủ nhân phải là một minh quân có hùng tài đại lược. Hai là, bản thân phải chắc chắn thành cánh tay của chủ, phải được chủ nhân đặc biệt trọng dụng.

Từ Long trung đối (cuộc đối thoại ở Long Trung) có thể thấy, Gia Cát Lượng đối với anh hùng trong thiên hạ đã nắm rõ trong lòng bàn tay. Lưu Biểu, Lưu Chương, Trương Lỗ… những kẻ bất tài vô năng này không đáng để suy xét. Những vị minh quân đáng suy xét đối với Gia Cát Lượng không ngoài ba người “Tào Tháo, Tôn Quyền, Lưu Bị”. Từ tình thế chính trị lúc bấy giờ mà nói, kẻ có khả năng nhất thống thiên hạ là Tào Tháo, vì sao Gia Cát Lượng lại không lựa chọn? Đây thực cũng chẳng phải vì Tào Tháo “danh là tướng nhà Hán, mà thân thực là giặc nhà Hán”. Gia Cát Lượng không lựa chọn Tào Tháo chính vì Trung Nguyên quá nhiều nhân tài, Tào Tháo sau khi bình định phương Bắc đã không còn như thời mới khởi binh nữa, mãnh tướng, mưu thần trong tay lúc này nhiều như mây. Gia Cát Lượng mới ra khỏi lều cỏ mà muốn được thăng tiến trong Tào Tháo bá phủ đâu phả là chuyện dễ dàng. Đối với chuyện này, Gia Cát Lượng đã thực sự hiểu rõ.

Khi người bạn Mạnh Kiến có lòng nhớ nhà, muốn trở về Trung nguyên mà tìm công danh, Gia Cát Lượng từng khuyên rằng “Trung Quốc nhiều sĩ đại phu, rong chơi hà tất phải là cố hương”. Về sau Gia Cát Lượng thảo phạt Ngụy bắt được Từ Thứ đang nhậm chức Ngự sử trung thừa, Thạch Thao nhậm chức Quận thú thì cảm khái mà nói: “Ngụy nhiều kẻ sĩ nên coi thường mà chẳng dùng hai người này sao!” (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện). Gia Cát Lượng vì Từ, Thạch hai người mà nói lên bất bình (thực tế hai người làm quan tới hai nghìn thạch, không thể nói là Tào Tháo không hề trọng dụng), chưa từng vì chuyện mình không theo Ngụy mà cảm thấy vinh hạnh!

Bằng con mắt trí tuệ của Gia Cát Lượng đương nhiên cũng có thể biết Tôn Quyền là người chủ có hùng tài đại lược, huống hồ anh trai là Cẩn cũng đang giữ chức ở Đông Ngô. Nhưng khi trọng thần Trương Chiêu tiến cử với Ngô chủ thì Gia Cát Lượng lập tức từ chối mà rằng “Tôn tướng quân là chủ, xem thấy đức độ,có thể dùng Lượng nhưng không thể dùng hết Lượng, nên ta chẳng thể ở” (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện, dẫn chú Viên tử)

Vì sao cuối cùng Gia Cát Lượng lại chọn Lưu Bị? Lưu Bị có hùng tài, biết người lại giỏi dụng tự nhiên là điều kiện tốt để Gia Cát Lượng tuyển chủ. Lại thêm Bị đang cầu hiền như khát nước, ba lần tới lều tranh. Gia Cát Lượng “do lòng cảm kích, mà theo Tiên đế” (Thục thư – Gia Cát Lượng truyện). Ngoài những điều đó, những lời bàn khác đều cho là Gia Cát Lượng có lòng với nhà Hán, cùng với Lưu Bị chủ yếu chính là kiến lập trên lập trường “phò Lưu yên Hán”: “Vận Hán sắp mất nên lấy việc hưng suy kế tuyệt làm nhiệm vụ của mình” (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện, Bản chú của Bùi Tùng). Bản chú của Bùi Tùng được rất nhiều sử gia dẫn dụng, để luận chứng cho việc Gia Cát Lượng có lòng “phục hưng Hán thất”, lấy đó làm nhiệm vụ của mình.

Đối với phân tích này tôi cho có phần không hẳn là như vậy. Vào giữa Đông Hán hoạn quan, ngoại thích thay nhau chuyên quyền chấp chính, triều chính ngày một suy vi. Những năm cuối Đông Hán, Đổng Trác làm loạn, quân phiệt chiến loạn, Triều đình nhà Hán chỉ còn những hơi thở cuối. Trong Sử sách có nói: “Từ An đế tới nay, quốc thống suy vi, duy chỉ còn tiếng, tấc đất ngọn cỏ đã không còn là của nhà Hán, kỳ vận đã mất từ lâu” (Ngụy thư - Vũ Đế Kỷ, dẫn chú Ngụy Lược). Đối với tình hình này, người thông minh như Gia Cát Lượng chẳng nhẽ nhìn không ra hay sao?

Gia Cát Lượng không theo Tôn Quyền lý do rất đơn giản, là vì Tôn Quyền “có thể dùng Lượng nhưng không thể dùng hết Lượng” chứ không phải vì Tôn Quyền họ Tôn không phải họ Lưu. Rốt cuộc vì sao Gia Cát Lượng lại phò tá cho Lưu Bị, một kẻ chạy đông chạy tây, dưới trướng người khác, không một tấc đất mà lập nghiệp?

Xưa nay hầu như tất cả các nhà chính luận đều chưa tìm hiểu sâu về điều bí mật này, phần lớn đều cho rằng Gia Cát Lượng nhìn xa trông rộng, không quan tâm tới thực lực quân sự và hiền tài dưới trướng của Lưu Bị, hoặc Lưu, Gia Cát kết hợp là bởi hai người trí lớn hợp nhau. Kỳ thực, điểm thú vị ở đây là ở chỗ, những điểm yếu, những chỗ thiếu của Lưu Bị trong mắt của Gia Cát Lượng lại là ưu thế. Thử nghĩ, nếu Lưu Bị cũng như Tào Tháo binh nhiều thế mạnh, nhân tài như mây, Gia Cát Lượng còn có thể được trọng dụng như thế không? Chính bởi dưới tay Lưu Bị, võ tướng chẳng qua chỉ là Quan Vũ, Triệu Vân, Trương Phi. Mưu thần chũng chẳng qua có Phí Trúc, Tôn Càn, Giản Ung vài người… Tập đoàn của Lưu Bị hiếm người tài như thế, cũng chính là một vũ đài rộng lớn để Gia Cát Lượng thi thố tài năng của mình.


http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/9/2008/06/80604giacatluong1.jpg


Điều kiện để xuất sơn của Gia Cát Lượng rất cao. Chủ không những phải biết hiền, mà còn phải biết tận (dụng hết). Hai chữ “Hiền”, “Tận” ngụ ý sâu xa. Hiền – tức phải coi Gia Cát Lượng thành hiền sĩ, quy cách đối với hiền sĩ cao nhất đó chính là đối đãi với quốc sĩ. Như Trí Bá đối với Dự Nhượng thời Xuân Thu, Yên Chiêu Vương đối với Quách Hòe thời Chiến Quốc. Đối với Gia Cát Lượng điều này vốn là chẳng đủ. Mà Tận lượng thì thật khó dùng một hai câu mà biểu đạt ý mình. Gia Cát Lượng rất cao ngạo, tuy đang còn trẻ, lại mới ra khỏi lều tranh nhưng tuyệt đối không định từng bước từng bước làm những công việc thấp kém, mà muốn phải ở ngay vị trí cao. Nếu muốn dùng hết tài của Lượng thì phải đặt tới vị trí nắm trọng quyền trong triều chính.

Gia Cát Lượng nằm ở Long Trung, tuy được những danh sĩ như Tư Mã Huy, Bàng Đức công tiến cử, ở Kinh Tương cũng có một chút danh tiếng nhưng nhiều kẻ vẫn không cho là thế. Lượng “mỗi lần nói đều tự sánh mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, người đương thời đều không cho là vậy”. Chỉ có vài người bạn cho là như vậy mà thôi (Thục thư - Gia Cát Lượng truyện). Đối với những khu vực như Trung Nguyên, Giang Nam đều không nói tới, vẫn chỉ là một nhân vật vô danh mà thôi.

Khi còn chưa thành danh Gia Cát Lượng đã muốn chủ nhân sử dụng phải Tận. Tâm cao khí ngạo là thế đối với những tập đoàn đã có đầy thực lực như Tào, Tôn thì không thể đạt được. Đối với Lưu Bị thì hoàn toàn khác. Lưu Bị tuy quan đã là tả tướng quân, Dự Châu mục. Theo chế độ của nhà Hán, tướng quân, châu mục đều có thể mở phủ mà tham chính, nhưng dưới trướng Lưu Bị nhân tài thiếu thốn. Triệu Dực từng nói “Nhân tài thời nay đã bị hai nước Ngụy, Ngô thu hết vậy”. Trong con mắt của Gia Cát Lượng, đây lại chính là “ưu thế” của Lưu Bị mà các thế lực chư hầu khác không thể bằng được. Cho nên Gia Cát Lượng đã đầu thân cho Lưu Bị.

Quan Vũ chết trận, lỗi tại Khổng Minh?

Kỳ thực Gia Cát Lượng sau khi đầu thân vào tập đoàn Lưu Bị thì địa vị và quyền lực dần dần được nâng lên rõ rệt. Sau trận Xích Bích (năm 208), Lượng làm Quân sư trung lang tướng, bổng lộc tương đương hai ngàn thạch (120 tấn thóc). Lưu Bị lấy được Ích châu, Lượng thăng làm Quân sư tướng quân, bổng lộc lên tới hai ngàn thạch. Năm thứ 5 Kiến An (năm 200) Quan Vũ được phong làm Thiên tướng quân, Hán Thọ Đình Hầu. Sau Xích Bích, Vũ làm Đãng khấu tướng quân, bổng lộc hai ngàn thạch. Lưu Bị xưng Hán Trung vương, Vũ làm Tiền tướng quân, chức chỉ dưới tam công. Trương Phi ở năm Kiến An thứ 4 làm Trung lang tướng, Sau Xích Bích làm Chinh Lỗ tướng quân, Nghi Đô thái thú, bổng lộc là hai ngàn thạch. Lưu Bị xưng Hán Trung Vương thăng Phi làm Hữu tướng quân, (Thục thư – Trương Phi truyện) vị dưới Tam công.

Có thể thấy, trước khi Lưu Bị xưng đế Quan Vũ, Trương Phi địa vị đều cao hơn Gia Cát Lượng. Đối với những người khác như Triệu Vân, Bàng Thống, Pháp Chính, Hoàng Trung, Mã Siêu đều không dưới Gia Cát Lượng, đúng như đại đa số các sử gia đều nói rằng quan hệ giữa Lưu Bị và Quan Vũ, Trương Phi có hơn Gia Cát Lượng một bậc. Bọn họ “ ngủ nghỉ cùng giường, tình thân như anh em” (Thục thư – Quan Vũ truyện). Cho nên bất kỳ người nào vào tập đoàn Lưu Bị đều chỉ có thể ở dưới ba người này mà thôi.Đối với người một lòng muốn hơn vạn người, có lòng giành đoạt thiên hạ như Gia Cát Lượng mà nói đây chính là một chướng ngại lớn trên bước đường hoạn lộ của mình.

Kỳ thực Lưu Bị đối với Gia Cát lượng không phải ngay từ đầu đã coi là tâm phúc, quân thần như cá với nước. Xông pha gần nửa đời, trải gần mười năm chiến loạn rèn rũa, Lưu Bị bây giờ đã là một chính trị gia lão luyện, trước khi Gia Cát Lượng xuất sơn, Bị không thể tính hết được năng lực của Lượng là cao hay thấp, cho nên Lưu Bị lấy được Kinh Châu, bốn quận Giang Nam, không hề cho Gia Cát Lượng giữ chức trọng yếu trong quân chính mà cho làm chức thu thuế vụ ở ba quận Trường Sa, Linh Lăng, Quế Dương để bổ sung quân lực mà thôi.

Nhận thức lại Long Trung đối cũng chỉ rõ rằng: “Lưu Bị vốn không lấy Long Trung đối làm phương lược, đương nhiên cũng không đặt Gia Cát Lượng vào địa vị vận trù mưu lược trong màn chướng. Trước khi Lưu Bị chết, Gia Cát Lượng một thời gian dài không ở bên Lưu Bị, những việc đại chính đều không phải trong thời gian Gia Cát Lượng tham tán. Quyết kế vào Thục, phản công Lưu Chương là mưu của Pháp Chính, Bàng Thống, Lượng ở Kinh không tham dự vào việc nhập Thục. Cho nên những việc quan trọng này là đúng hay sai đều không có liên can tới Lượng”. Tôi cho rằng những lời này của Điền tiên sinh là chính xác. Chỉ rõ Gia Cát Lượng trong một thời gian dài hoàn toàn không phải là nhân vật số 1 dưới trướng của Lưu Bị.

(Còn nữa)

LonelySoul
04-02-2009, 12:09 AM
Gia Cát Lượng đã mượn đao giết Quan Vũ? (Phần II)


Chướng ngại lớn nhất cho việc nắm quyền lực của Gia Cát Lượng là ai? Thực không có gì phải nghi vấn, đó chính là Quan Vũ. Quan Vũ kiêu hùng đã sớm nổi danh. Năm Kiến An thứ 19 (năm 214), Lưu Bị tấn công Ích Châu, Mã Siêu ở Tây Lương tới đầu quân. Mã Siêu vốn là một hổ tướng có tiếng đương thời. Lưu Bị được bèn lập tức phong làm Bình Tây tướng quân, địa vị tương đương với Quan Vũ. Quan Vũ ở Kinh Châu nghe được tin cực kỳ bất mãn, lập tức viết thư cho Gia Cát Lượng “Như Siêu có thể so với ai?”. Gia Cát Lượng viết thư khéo léo đáp lại rằng: “Mạnh Khởi (Mã Siêu) tài kiêm văn vũ, dũng liệt hơn người, là hào kiệt một thời…. nhưng cũng chẳng sánh được với tướng quân…”. Quan Vũ đọc xong thư mà dương dương tự đắc.


Năm Kiến An thứ 24 (năm 219) Lưu Bị tự xưng làm Hán Trung vương, muốn trọng dụng Hoàng Trung làm Hậu tướng quân “Gia Cát Lượng bèn nói với tiên chủ: Danh vọng của Trung không thể cùng với Quan, Mã, nay lại tương vi. Mã, Trương ở gần có thể nói tường tận. Quan nay ở xa chỉ e không vui. Có nên hay chăng? Tiên chủ nói: Ta tự có cách giải thích” (Thục thư – Hoàng Trung truyện). Lưu Bị nói “Ta tự có cách giải”, thực ra chỉ là phái Ích châu tiền bộ Tư Mã Phí Thi đi trước. Tam Quốc chí - Phí Thi truyện viết: “Lưu Bị sai Thi tới phong Quan Vũ làm Tiền Tướng Quân, Vũ nghe được Hoàng Trung phong làm Hậu tướng quân bèn đại nộ mà rằng: Đại trượng phu sao có thể cùng sánh ngang với lão binh. Không chịu thụ phong”. Quan Vũ cuồng vọng tới thế, Gia Cát Lượng sao không trừng trị mà người lại còn lựa ý của Vũ để mà lấy lòng?

Cô (ta) nay có Khổng Minh, như cá gặp nước, các người chớ nói nhiều. Vũ, Phi bèn thôi” (Thục thư – Gia Cát Lượng truyện). Có thể thấy Quan Vũ, Trương Phi vốn không đặt Gia Cát Lượng vào trong mắt mình, đối với Lưu Bị càng ngày càng thân với Gia Cát thì lòng không vui.


http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/32/2008/06/8604_anh3.jpg
Hình ảnh
Tượng Khổng Minh


Năm Kiến An thứ 13 Tào Tháo xuất quân xuống phía nam. Muốn một trận quét sạch Đông nam, Lưu Bị thân cô thế quả, lại không có chốn dung thân, tình hình ngàn cân treo sợi tóc. “Gia Cát Lượng năm đó 27 tuổi, tự dâng sách lược, thân đi sứ Tôn Quyền, cầu viện nơi Ngô hội, Quyền cũng có ý với Bị, lại them thấy Lượng kỳ nhã, càng thêm kính trọng lập tức sai ba vạn quân tới phù trợ Bị. Bị được đắc dụng cùng Vũ đế giao chiến, đại phá được quân địch, thừa thắng ruổi quân, Giang Nam được bình” (Thục thư – Gia Cát Lượng truyện). Trong trận Xích Bích, Gia Cát Lượng lập được đại công, không những củng cố lại địa vị trong tập đoàn Lưu Bị mà còn gây được uy tín. Quan Trương hai người cũng không còn dám xem thường nữa. Nhưng Quan Vũ từ sự khinh thị của quá khứ mà biến thành đố kị Gia Cát Lượng. Vương Phu Chi đối với việc này từng nói:

“Chiêu Liệt bại ở Trường Bản mà quân của Vũ toàn vẹn, Tào Tháo qua sông, mà không một tay thi thố được. Mà Gia Cát công đông sứ, Lỗ Túc tây kết, định phân bang giao hai nước, Tôn thị phá Tào. Công không ở Vũ, mà ở Lượng. Lưu Kỳ nói : Triều đình dưỡng binh ba mươi năm mà nay đại công ở tay một nho sinh. Cho nên Vũ càng kị Gia Cát và kị Túc”.

Quan Vũ và Trương Phi tính cách vốn không giống nhau “Vũ thiện đối đãi với sĩ tốt nhưng kiêu căng kinh bạc đối với sĩ đại phu, Phi thì yêu kính quân tử nhưng ghét kẻ tiểu nhân” (Thục thư – Trương Phi truyện). Trương Phi đối với những sĩ đại phu có tài năng thì mười phần kính trọng, nhưng Quan Vũ đối với sĩ đại phu thì khó chịu. Gia Cát Lượng lại là sĩ đại phu đứng đầu trong tập đoàn của Lưu Bị, đương nhiên cũng ở trong đó. Gia Cát Lượng đối với việc Quan Vũ coi thường mình cũng thực rõ ràng nhưng vì kị việc Vũ “tình như thủ túc” đối với chủ công, lại thêm rằng thời gian theo Lưu Bị so với Quan Vũ thì muộn hơn nhiều, quan chức cũng kém hơn Quan Vũ, nên không thể không khéo léo mà xử thế. Gia Cát Lượng tính toán không phải là như thế nào để trừng phạt Quan Vũ, mà là giải quyết vấn đề từ căn bản, chờ đợi thời cơ để giết Quan Vũ.

Năm Kiến An thứ 24, Quan Vũ phát động chiến dịch Tương Phàn, tuy uy trấn Hoa Hạ, nhưng cuối cùng dẫn tới việc Kinh châu thất thủ, bản thân thì bị Tôn Quyền giết chết. Trong đó có rất nhiều điểm khiến người ta phải nghi ngờ.

Trước và sau chiến dịch Tương Phàn, sứ giả hai nước Ngô, Ngụy qua lại không ngừng, cùng bàn mưu tấn công Quan Vũ, có thể nói là không dong trống mở cờ mà lặng lẽ phối hợp với nhau. Lưu Bị và Gia Cát Lượng đối với việc này hòa toàn không biết nên không hề ra một mệnh lệnh nào cho Quan Vũ. Điểm làm người ta nghi ngờ là, Khi Tào Tháo đem quân xuống Ma Bi, không ngừng điều khiển Vu Cấm, Bàng Đức, Từ Hoảng tới viện trợ Phàn thành, hành động quân sự lớn như thế, Thục Hán cũng không hề sử dụng bất cứ một đối sách nào. Cuối cùng Quan Vũ thất bại mà chạy ra Mạch Thành, trước cảnh toàn quân sắp bị tiêu diệt mà viện binh của Thục quân vẫn không thấy đâu. Điều này cũng là một điểm rất đáng nghi ngờ. Quốc học đại sư Chương Thái Viêm có kiến giải độc đáo rằng: “Bại ở Lâm Thư (nơi Quan Vũ bị giết) Gia Cát Lượng không lấy một tốt tới cứu viện. Kẻ ngu muội cười rằng không biết nhìn xa…”

Họ Chương luận rằng Gia Cát Lượng bởi thấy “Quan Vũ là một hổ tướng… không trừ đi tất về sau sẽ khó trị được, nên không tiếc Kinh Châu, mượn tay người Ngô, để lấy mạng của Quan Vũ”. Quan Vũ trấn thủ Kinh Châu, tay nắm trọng binh, cực kiêu ngạo cuồng vọng, không những đời sau (Sau khi Lưu Bị chết) khó đối phó, mà ngay khi Lưu Bị còn sống Gia Cát Lượng cũng khó lòng vượt qua được chướng ngại Quan Vũ. Muốn nắm được đại quyền. Gia Cát Lượng tình nguyện đánh đổi Kinh Châu, mượn tay người Ngô để trừ khử Quan Vũ.

Kiến giải này của Chương thị thực là gan lớn. Đây đương nhiên chỉ là phỏng đoán. Họ Chương đối với những lí do nêu trên cho là chưa đủ, không lâu sau lại bổ sung thêm rằng: “Việc chính ở tay tiên chủ, Vũ Hầu đương sách hoạch việc an dân, chẳng thể lĩnh hết... Bại ở Kinh châu trước ở chỗ khinh Ngô, sau ở chỗ không có viện quân, đấy cũng chính là lỗi ở tiên chủ”.

Đem việc bại ở Kinh Châu mà nói là do Lưu Bị có lòng khinh địch, thực hơi có phần khiên cưỡng. Khi đó thực là Gia Cát Lượng không thể quản hết được việc quân chính đại quyền nhưng rõ ràng Gia Cát Lượng biết việc Quan Vũ tấn công Tương Phàn vào lúc điều kiện chưa đủ chin muồi, hoàn toàn đi ngược lại với Long Trung đối là đợi thiên hạ có biến, và sách lược hai đường cùng bắc phạt Tào Ngụy. Nhưng trong Tam Quốc Chí chính văn và cả bản chú của họ Bùi thì đều không hề thấy ghi chép Gia Cát Lượng khuyên gián.


http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/32/2008/06/8604_anh4.jpg
Hình ảnh
Quan Vũ


Hơn nữa, cho dù Lưu Bị có sủng tín, thoải mái với Quan Vũ, không coi Long Trung đối là gì. Nhưng sau khi chiến dịch Tương Phàn chiến thắng, Lưu Bị, Gia Cát Lượng không thể không toàn lực quan sát từng bước của chiến dịch. Cho dù đường đi lối lại giữa Xuyên, Ngạc có cách trở, giao thông không tiện, tin tức truyền bá khó khăn, nhưng cả chiến dịch Tương Phàn từ tháng 7 năm Kiến An thứ 24 tới tháng 12 thì kết thúc, thời gian dài gần một nửa năm. Thục Hán bây giờ là một chính quyền hoàn chỉnh, không thể thiếu những con đường truyền tin. Quan Vũ tiến công Tương Phàn, giữ Kinh Châu binh lực không đủ, lại thêm lúc này liên minh Tôn Lưu đã bị phá vỡ, “bọ ngựa bắt ve, chim sẻ ở sau”, Tôn Ngô lúc nào cũng có thể tới cướp Kinh Châu. Gia Cát Lượng là người hiểu thấu binh pháp, chẳng nhẽ cũng không biết việc này?

Ai cũng đều biết Gia Cát Lượng một đời làm việc cẩn thận, không hề có chuyện mạo hiểm. Sao lại không nhắc nhở Lưu Bị đây? Phương Thi Minh tiên sinh trong Lưu Bị và Quan Vũ đã làm biến đổi nguyên ý của Chương Thái Viêm tiên sinh, đem “Gia Cát Lượng không trừ Quan Vũ tất đời sau khó trị được” mà đổi thành “Lưu Bị không trừ (Quan Vũ) thì đời sau khó trị được”. Cách “ghép cành” này thực không thể được. Tôi cho rằng chỉ cần Gia Cát Lượng làm đúng chức trách của một quân sư, lúc nào cũng có thể đem tình thế nguy hiểm của Kinh Châu mà nói với Lưu Bị. Lưu Bị cùng Quan Vũ tình thân như thủ túc, không thể nào chỉ có đứng nhìn việc Quan Vũ chiến bại ở Lâm Thư mà không một binh một tốt cứu viện. Cho nên người thực sự đưa Quan Vũ lên đoạn đầu đài không phải ai khác mà là chính là Gia Cát Lượng.

Chức thừa tướng, Gia Cát Lượng là lựa chọn cuối cùng?

Sau khi Quan Vũ chết, địa vị và quyền lực của Gia Cát Lượng được nâng cao rõ rệt nhưng vẫn chưa tới mức “trên vạn người, dưới một người”. Sau khi vào Thục, Lưu Bị tín nhiệm Pháp Chính hơn hẳn Gia Cát Lượng. Đối với điều này Gia Cát Lượng cũng rất rõ. Lưu Bị Đông Chinh “phục nỗi nhục Quan Vũ”, quần thần thay nhau khuyên gián, Lưu Bị nhất loạt đều không nghe. “Năm Chương Vũ thứ 2 đại quân thất bại, trú ở Bạch Đế, Lượng than rằng: Pháp Hiếu Trực (Pháp Chính) nếu còn, chắc có thể ngăn được chủ công Đông hành, dù có Đông hành cũng không tới nguy địa thay!” (Thục thư – Pháp Chính truyện). Đối với việc Lưu Bị phát động cuộc chiến ở Di Lăng, Gia Cát Lượng có ngăn cản hay không, bởi sử không chép nên không thể biết được. Nhưng từ lời nói trên có thể thấy được rằng Pháp Chính ở trong lòng Lưu Bị thực Gia Cát Lượng không thể bằng!

Lưu Bị nhập Xuyên chủ yếu là nhờ công Pháp Chính, Pháp Chính không những trợ giúp Lưu Bị lấy được Ích Châu, định Hán Trung, kiến lập được công lao trác việt, lại “có thừa trí thuật, hiểu ý chủ nhân”. “Tiên chủ cùng với Tào công tranh, thế có bất lợi, nên lui, nhưng tiên chủ đại nộ mà không chịu lui, bèn không dám can gián nữa. Tên bắn như mưa, Chính bèn lên phía trước tiên chủ, tiên chủ nói rằng “Hiếu Trực che tên” Chính nói “Minh công là giường cột sao có thể giống với bọn tiểu nhân được” Tiên chủ bèn nói “Hiếu Trực, ta với ngươi cùng đi”…

Từ đó đủ thấy Pháp Chính đối với Lưu Bị có thể nói là lấy thân tương trợ, việc việc đều thủ tín với Bị. Công phá được Thành đô Lưu Bị phong Chính là Thục quận thái thú, Dương Vũ tướng quân, ngoài giữ chốn kinh kỳ, trong làm mưu thần… Pháp Chính thân kiêm chức vụ trọng yếu ở trong ngoài, cũng chính là sự thể hiện của việc Lưu Bị cực kỳ tín nhiệm. Có người nói với Gia Cát Lượng rằng :

“Pháp Chính làm thái thú Thục quận mà tung hoàng, tướng quân nên khởi bẩm chủ nhân, giảm bớt uy khí. Lượng đáp rằng: Chủ nhân phía bắc sợ Tào Tháo thế mạnh, đông sợ Tôn Quyền bức hiếp, gần đây lại thêm việc của Tôn phu nhân, tiến thoái khó khăn, Pháp Hiếu Trực lại là người phù trợ, sao có thể ngăn được Pháp chính không làm theo ý mình được” (Thục thư – Pháp Chính truyện)

Gia Cát Lượng phản ánh tình hình thực tế đương thời, nhưng cũng có thể thấy đây chính là Gia Cát Lượng tự trào lộng mình. Một mặt là Pháp Chính tung hoành ngang dọc không coi Gia Cát Lượng vào mắt; một mặt chính là Gia Cát Lượng đối với việc Pháp Chính tung hoành, tác uy tác phúc cũng đành bất lực.

Pháp Chính tung hoành ngang dọc Gia Cát Lương đương nhiên không vui. Nhưng làm thế nào để làm giảm quyền thế, Gia Cát Lượng tự có sự tính toán. Lưu Bị cùng với Tào Tháo tranh đoạt Hán Trung bởi binh lực không đủ nhưng vẫn “yêu cầu phát binh, Quân sư Gia Cát Lượng bèn hỏi Dương Hồng, Hồng đáp: “Hán trung là yết hầu của Ích Châu, việc tồn vong vốn nằm ở đó, nếu không có Hán Trung ắt không có Thục, đấy cũng chính là cái họa từ cửa vào vậy. Việc như nay, đàn ông đương chiến, đàn bà làm vận lương, phát binh còn nghi ngờ gì?”. Khi đó Thục quận thái thú Pháp Chính theo tiên chủ bắc hành, Lượng trong biểu dâng muốn phong Hồng tạm giữ chức Thục quận thái thú, mọi việc đều được làm tốt thì có thể lĩnh luôn chức vụ” (Thục thư- Dương Hồng truyện).

Hán Trung là “yết hầu của Ích Châu”, việc được mất liên quan tới sự tồn vong của chính quyền Thục Hán. Việc này chẳng nhẽ Gia Cát Lượng không hay? Đối với việc yêu cầu phát binh gấp thì chính là mệnh lệnh của Lưu Bị, sao có thể chống lại? Gia Cát Lượng hỏi Dương Hồng mục đích chỉ có một đó chính là mượn cơ hội để tiến cử Dương Hồng vào việc lo phát binh, tiện cho việc thay thế Pháp Chính làm Thục quận thái thú. Trong tình thế Pháp Chính không ở đó Lưu Bị cũng đành chấp nhận. Dương Hồng kịp thời đưa quân dội, lương thảo vật tư tới tiền tuyến là Hán Trung, nếu việc làm tốt có thể giữ nguyên chức Thục quận thái thú. Pháp Chính mất đi vị trí quan trọng là bên ngoài giữ chốn kinh kỳ, quyền thế bị giảm đi phần lớn.

Nhưng mâu thuẫn giữa Gia Cát Lượng và Pháp Chính vẫn chưa hết. “Gia Cát Lượng và Chính, tuy tính không giống nhau nhưng lấy công mà hỗ trợ”. Cái gọi là “lấy công mà hỗ trợ” thực ra chỉ là bề mặt, nhưng “tính không giống nhau” mới là bản chất. Đối với sự thông minh tài trí của Pháp Chính, Gia Cát Lượng cũng thực sự kính phục: “Trí thuật của Chính làm Lượng cảm thấy tài lắm” (Thục thư- Pháp Chính truyện). Càng quan trọng hơn nữa Pháp Chính là người duy nhất trong đám mưu thần mà có thể nói Lưu Bị nghe được. Điểm này chính Gia Cát Lượng cũng cho là không bằng. Bởi thế nếu như Pháp Chính sống lâu ắt hẳn mâu thuẫn sẽ còn hơn nữa.

May mắn cho Gia Cát Lượng chính là năm thứ 2 khi Lưu Bị xưng Hán Trung Vương, thì Pháp Chính bệnh mà qua đời. Khi Lưu Bị xưng đế thì Quan Vũ, Bàng Thống, Pháp Chính, Hoàng Trung đều đã mất. Trương Phi tuy nhiên là tình thủ túc với Lưu Bị nhưng dẫu sao cũng chỉ là một viên võ tướng. Mã Siêu là tướng hàng, tâm thường mang lòng phản trắc, càng không đáng tín nhiệm. Thái phó Hứa Tĩnh lại là người thanh đạm. Lưu Bị ngó trước sau, ngoài Gia Cát Lượng thì không ai có thể giao được trọng trách lớn. Từ khi tức vị liền phong Gia Cát Lượng làm Thừa tướng, sau khi Trương Phi chết lĩnh chức Tư lệ hiệu úy. Gia Cát Lượng phấn đấu mười lăm năm, cuối cùng cũng leo lên được cái ghế Thừa tướng của mình thực ra cũng chỉ là sự lựa chọn bất đắc dĩ của Lưu Bị?

(Còn nữa)

TrungX
04-02-2009, 01:01 AM
;)) xem phim đọc truyện từ xưa, nhiễm cái suy nghĩ và hình ảnh lung linh của Quan Vũ và Khổng Minh
lớn lên mới dần nhận ra con người ko thể tuyệt mỹ như thế đc, cả 2 người này cũng có những tật xấu và khuyết điểm, chỉ có điều ưu lớn hơn khuyết thôi.

Cuối năm ngoái Vtc1 chiếu và bình luận, xem thì ít và nghe thì nhiều hơn:D cũng có vài ý mới hay ho lần đầu nghe đc :D Đọc bài của Ls post cũng rõ hơn 1 vài ý :D

Nhưng dù sao, "Tào Tháo tuyệt gian, Vân Trường tuyệt nghĩa, Khổng Minh tuyệt trí" ko phải do 1 người phong, ko phải do 1 quốc gia phong, cũng không phải do 1 thời kỳ phong, mà là điều lịch sử đã ghi nhận. Vì thế, ai cũng có thể đưa ra nhận xét khen chê riêng của mình, nhưng chốt lại, thì tất cả vẫn phải công nhận 1 điều rằng Tam tuyệt vẫn mãi là Tam tuyệt. Tìm mỏi mắt cả cái thời ấy ko ai xứng đáng với cái danh của 3 vị này.

Mr.Cò
04-02-2009, 01:04 AM
có anh TrungX tý nữa thì thành người tuyệt gian :-"

;)) spam cho bác đọc thôi....

đọc rồi thì del đi cũng đc ;))

mình càng ngày càng bệnh :-|

TrungX
04-02-2009, 01:12 AM
có anh TrungX tý nữa thì thành người tuyệt gian :-"


:| đây là câu khen đấy chứ :| anh sẽ phấn đấu để được cái danh hiệu ấy :adi_hvt1:

Mr.Cò
04-02-2009, 01:17 AM
có anh TrungX tý nữa thì thành người tuyệt gian :-"

:| đây là câu khen đấy chứ :| anh sẽ phấn đấu để được cái danh hiệu ấy :adi_hvt1:

ôi đấy ;))

muốn làm người xấu cũng dễ gì đâu :-|

LonelySoul
04-02-2009, 11:00 AM
"Khổng Minh giết Quan Vũ": Những khảo cứu lịch sử (Phần I)


Sau khi được đăng tải, bài báo Gia Cát Lượng mượn đao giết Quan Vũ đã gây không ít phản ứng trong những người yêu thích văn hóa cũng như giới học thuật. Hầu hết mọi người đều tỏ ý không thể chấp nhận quan điểm đã đưa ra. Vì thế, bài viết sau đây hướng tới mục đích là một lần nữa cùng với các học giả bàn luận kỹ lưỡng về vấn đề còn nhiều tồn nghi này.

Thân làm quân sư mà không tận lực, lỗi ở Khổng Minh trước nhất!

Điểm chủ yếu tạo nên phản ứng của các học giả là, Quan Vũ trước khi tấn công Tương Phàn, bắt Vu Cấm, chém Bàng Đức, vây khốn Tào Nhân ở Phàn Thành, về mặt quân sự mọi mặt đều là thắng lợi, Gia Cát Lượng không nhất thiết phải phái viện binh Thục đến cứu viện. Sau đó, Vũ mất Kinh Châu, chạy tới Mạch Thành, thời gian rất ngắn, Gia Cát Lượng không thể biết được cũng không thể tăng cường viện binh. Bề ngoài, đây có thể là một lý do rất đầy đủ nhưng nếu căn cứ vào sự thật lịch sử, thêm sự khảo đính cẩn thận, vẫn còn những tồn nghi lớn.


http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/9/2008/06/80605giacat_td2.jpg
Khổng Minh


Tôi cho rằng, Quan Vũ quân ít mà Bắc phạt, tấn công Tương Phàn là một sai lầm nghiêm trọng về mặt chiến lược. Bất cứ ai đọc qua Tam Quốc đều biết, quyết sách của Gia Cát Lượng tại Long trung đối (cuộc đối thoại ở Long Trung) là đợi thiên hạ có biến, Ích Châu và Kinh Châu hai quân cùng lúc phạt Ngụy, một tấn công Uyển Lạc, một tấn công Trường An, khiến Tào Ngụy đầu cuối không thể tiếp ứng cho nhau. Việc Quan Vũ cầm đầu quân Kinh Châu, thực chất chỉ đóng vai trò yểm trợ và phối hợp với quân tại Thục Hán. Nhưng khi quân Thục Hán không có manh động nào, Quan Vũ lại dùng quân yểm trợ đơn độc tổ chức một cuộc tấn công rất quy mô Tào Ngụy thì rõ ràng là một sự mạo hiểm rất lớn.

Hơn nữa, khi đó, mối quan hệ giữa hai nhà Tôn Lưu đã có những dấu hiệu bị rạn nứt. Không còn giống như năm Kiến An thứ 19, khi Tào Tháo tấn công Hán Trung, Lưu Bị và Tông Quyền vì tranh đoạt Kinh Châu tựa hồ đã nói đến vũ lực nhưng vẫn nhẫn nhịn mà gặp mặt. Quan Vũ xuất binh tấn công Tương Phàn, Kinh Châu đương nhiên bị bỏ trống. Trong tình huống đó, đương nhiên phải phòng bị Tôn Quyền từ phía sau, thừa cơ đánh úp Kinh Châu. Gia Cát Lượng cả một đời dụng binh cẩn trọng, lại mười phần coi trọng tình trạng của liên minh Tôn Lưu, lẽ nào lại coi nhẹ chuyện đó?

Quan Vũ tuy thống soái quân ở Kinh Châu, nhưng không có lệnh của Lưu Bị, Quan Vũ tuyệt không dám tùy tiện xuất binh. Gia Cát Lượng biết rõ điều kiện để Quan Vũ tấn công Ngụy chưa chín muồi, lại càng đi ngược lại sách lược của bản thân đã đề ra ở Long Trung đối, vậy tại sao lại không tận lực thực hiện trách nhiệm của một quân sư, nỗ lực can gián. Đây là nghi điểm thứ nhất.

Thấy chết không cứu, Gia Cát Lượng “tiễn” Quan Vũ lên đoạn đầu đài

Cuộc chiến Tương Thành ngay từ khi bắt đầu, phía Tào Tháo đã rất coi trọng. Thân tại Lạc Dương, song Tào Tháo ngày đêm cùng Tư Mã Ý, Lưu Diệp, Tương Tề, Hoàn Giai,… rất nhiều mưu sĩ phân tích chiến sự, thảo luận sách lược. Tào Tháo còn không ngừng điều động các đội quan tinh nhuệ, tướng tài bổ sung lực lượng cho Phàn Thành. Người viết khảo chứng sử liệu, phát hiện rằng, Tào Tháo trước sau phái rất nhiều quân tăng viện đến Phàn Thành.

Tam Quốc chí – Quan Vũ truyện, viết: “Kiến An, năm thứ 24, Tiên chủ làm Hán Trung Vương, lập Vũ làm Tiền tướng quân. Năm đó, Vũ dẫn quân tấn công Tào Nhân ở Phàn Thành. Tào công (Tào Tháo) phái Vu Cấm dẫn quân tiếp viện Tào Nhân”. Tam Quốc chí – Từ Hoảng truyện có chép: “Lại sai Hoảng (Từ Hoảng) giúp Tào Nhân chống Quan Vũ. Quan Vũ vây Tào Nhân ở Phàn Thành, cũng vây tướng quân Lã Thường ở Tương Dương. Tướng của Hoảng đa phần mới còn trẻ khó mà đối địch với Vũ được, vì thế trước khi tớ Dương Lăng đã bị thuần phục. Thái tổ lại phái Từ Thương, Lã Kiến giúp đỡ Hoảng. Trước sau Thái Tổ phái Ân Thự, Chu Thiện, mười hai tiểu đoàn đến giúp Hoảng”. Tam Quốc chí – Trương Liêu truyện cũng chép: “Quan Vũ vây Tào Nhân ở Phàn Thành, Ngụy vương ra lệnh cho Liêu (Trương Liêu) và chư tướng tới cứu Nhân”…

Từ sử liệu có thể thấy để giải vây Phàn Thành, Tào Tháo đã phái đi năm tốp cứu viện: Một là Vu Cấm, Bàng Đức dẫn 7 quân đoàn, tốp thứ hai là tinh binh của Từ Hoảng, tốp thứ ba là quân của Từ Thương, Lã Kiến, bốn là mười hai tiểu đoàn của Ân Thư, Chu Thiện. Năm là con át chủ bài tinh nhuệ nhất dướ trướng của Tào Tháo, người từng đối chọi với quân của Tôn Quyền ở Hợp Phì: quân đội của Trương Liêu. Đến như vậy mà Tào Tháo vẫn chưa yên tâm, còn tự mình thống xuất hơn 10 vạn tinh binh đóng ở Ma Bi, cách không xa Tương Phàn, đề phòng có lúc phải tăng viện cho Tương Phàn. Từ đó có thể thấy, để đối phó với chiến dịch của Quan Vũ, phía Tào Ngụy đã thực hiện cuộc tổng động viên trên toàn quốc.

Ngược lại, phía Thục Hán lại không hề có bất cứ một hành động nào, không có bất cứ một sự sắp xếp quân sự nào. Theo Tam Quốc chi – Cam Ninh truyện có ghi: “Dưới cờ Vũ có 3 vạn người”. Quan Vũ có ba vạn nhân mã, thì hơn một nữa đã phải để lại phòng thủ cứ địa Kinh Châu, lại muốn đánh chiếm căn cứ quan trọng của Tào Ngụy là Tương Phàn, thật chẳng khác gì châu chấu đá xe. Do Quan Vũ binh nhỏ tướng ít, nên ngay cả tháng 8, “nước sông Hán Thủy dâng cao, Phàn Thành thấp hơn mặt nước 5 - 6 trượng”, cũng không thể chiếm được Phàn Thành. Đến khi quân tướng các lộ của Tào Tháo tập trung ở Phàn Thành thì quân của Quan Vũ đã rơi vào hoàn cảnh cực kì xấu.

Cũng có người nói rằng, Gia Cát Lượng đâu phải thần nhân, khó mà dự liệu được chuyện Lã Mông tập kích Kinh Châu, cho nên mới không phái viện binh cho Quan Vũ. Kỳ thực, ngay cả khi Tôn Ngô không bội minh ước với Vũ thì Vũ cũng khó mà dùng đội quân yểm trợ này để chiếm Tương Phàn. Mà khi Tào Tháo phái Từ Hoảng đến yểm trợ Tào Nhân tấn công Quan Vũ, thì Quan Vũ đã lâm vào nguy cơ thất bại rồi. Sử chép: “Quan vũ đáp thuyền đến thành, lập vòng vây trùng trùng, bên trong và bên ngoài (thành) bị cắt đứt” (Tư trị thông giám, quyển 68, Hồ Tam Tiêu chú). Nhưng đại tướng Từ Hoảng của Tào Ngụy dựa vào ưu thế về binh lực mà phá vòng vây của Quan Vũ. Sử chép: “Quan Vũ thấy sắp hỏng, tự mình dẫn 5 ngàn binh mã xuất chiến. Hoảng tấn công, Vũ thoái lui, Hoảng bèn đuổi theo và vây lại. Quân Quan Vũ kẻ bỏ chạy, kẻ nhảy xuống Miến Thủy mà chết” (Tam Quốc chí – quyển 17 – Từ Hoảng truyện).

Quân của Quan Vũ thương vong nặng nề, chỉ có thể bỏ Tương Phàn mà chạy về phía Nam. Chỉ vì Tào Tháo muốn làm ngư ông đắc lợi, mới dừng việc truy bức tàn quân của Quan Vũ. Hồ Tam Tiêu bình luận rằng: “Khiến lã Mông không dám tập kích Giang Lăng, Vũ cũng không dám phá Tháo. Tháo mượn tay Mông để mình làm ngư ông đắc lợi”. Vương Phu Chi cũng chỉ ra rằng: “Lật Vũ cũng là nằm ngoài cái ý của Mông, nhưng mà không có sự quấy nhiễu của Mông, Vũ có thể thoát khỏi cái chết hay sao? Vây Tào Nhân thì dư sức, nhưng đối địch Tháo, Vũ vẫn còn có chỗ bất túc vậy” (Vương Phu Chi, Độc thông giám luận, quyển 10).

Chiến dịch Tương Phàn liên quan đến đại kế phạt Ngụy của Thục Hán, Gia Cát Lượng vốn lấy “phục hưng nhà Hán” làm trách nhiệm của mình, sao có thể không quan tâm nhất cử nhất động của chiến dịch này? Lượng cũng từng trấn thủ Kinh Châu nhiều năm, đối với trang bị, binh lực quân sự của Kinh Châu, càng nắm rõ như lòng bàn tay, vì sao khi Tào Ngụy gần như xuất toàn lực, tình thế quân sự nghiêm trọng như vậy mà không có mảy may quan tâm? Quân chủ lực của Thục Hán tại Ích Châu không thể rút ra một đoàn để tăng viện Kinh Châu? Sao lại để đám quân nhỏ bé của Quan Vũ đơn độc chống lại hơn 10 vạn tinh binh của Tào Ngụy. Điều này thật cũng khó mà lý giải được.


http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/9/2008/06/80605tamquoc1.jpg
Quan Vũ


Cũng có người cho rằng, vì Quan Vũ quá cuồng ngạo khinh địch nên mới mắc mưu của Lã Mông, Lục Tốn, đã đem toàn bộ số quân phòng bị ở Kinh Châu tấn công Phàn Thành, để hậu phương trống rỗng, tạo cơ hội cho Tôn Quyền tập kích. Kỳ thực điểm này cũng cần phải phân tích cho rõ ràng. Quan Vũ điều binh trấn thủ Giang Lăng tăng viện cho Tương Phàn, cố nhiên là đã không đánh giá hết khả năng tập kích của quân Đông Ngô, nhưng nếu như không phải vì binh lực không đủ, Phàn Thành tấn công lâu mà vẫn chưa khuất phục được, Quan Vũ hà tất phải “liền hô Lưu Phong, Mạnh Đạt, phát binh tương trợ”? Nếu như lúc này quân ở Thành Đô hoặc Hán Trung có thể kịp thời đến, Quan Vũ hà tất phải dùng đến những lão binh trông giữ thành ở Giang Lăng. Quan Vũ nam chinh bắc chiến đã nhiều năm, tuy không thể nói là bậc túc trí đa mưu nhưng cũng không phải là kẻ dũng phu, sao có thể nghĩ không đến những điều như vậy. Ông ta phải dùng đến hạ sách đó, e rằng có điều khó nói là đã chắc chắn ở Thục không sẽ không phát binh tương trợ.

(Còn nữa)

LonelySoul
04-02-2009, 11:20 AM
"Khổng Minh giết Quan Vũ": Những khảo cứu lịch sử (Phần II)


(...) Chiến dịch Tương Phàn bắt đầu năm tháng 7 năm Kiến An thứ 24, kết thúc vào cuối tháng 12 năm đó, từ đầu chí cuối khoảng nửa năm. Bước ngoặt trong toàn bộ chiến dịch là vào tháng 10, khi Đông Ngô bội minh ước, Lã Mông vượt sông, không mất một binh một tốt đoạt được Kinh Châu. Quan Vũ chạy về Mạch Thành, đột phá vòng vây tới Lâm Thư thì bị quân của Tôn Ngô vây giết vào tháng 12.

Điều này cho thấy quá trình thất bại của Quan Vũ trong thời gian khoảng 2 tháng. Điều khiến nhiều người tốn giấy mực là ở chỗ, lẽ nào trong thời gian khá dài ấy, Lưu Bị và Gia Cát Lượng không nghe một chút tin tức nào về toàn bộ diễn biến của chiến dịch? Lẽ nào, Quan Vũ và thống soái của Thục Hán, đại bản doanh của Thục lại đánh mất toàn bộ liên lạc? Lẽ nào ngay cả khi Thục Hán mới được kiến lập mà đội quân tình báo đã tận diệt, hoàn toàn tê liệt? Theo những kiến thức quân sự thông thường nhất, Tương Phàn chiến dịch bắt đầu, cả Ngụy, Thục, Ngô đều phải chú ý, toàn bộ tập trung vào chiến trường Kinh Châu. Thục Hán ở Ích Châu không hề chịu bất cứ sự uy hiếp nào của quân Ngụy hay Ngô, tuyệt không thể bịt mắt bưng tai với diễn biến chiến dịch ở Kinh Châu được. Nguyên cớ là do đâu?


http://www.vietimes.com.vn/Library/Images/9/2008/06/80605tamquoc3.jpg


Điều đáng phải chỉ ra là, thời Tam Quốc, hệ thống tình báo trong quân đội đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh. Các nhà sử học đối với vấn đề này đã nghiên cứu rất hệ thống. Thời Đông Hán, có nhân viên chuyên trách, chịu trách nhiệm thu thập tin tức, sự tình, thông báo tình hình chiến trận được gọi là “Xích hậu”. Thượng Thư – Vũ Cống chép: “Hầu, chính là vương hầu vậy. Xích hậu mà phụng sự”, Khổng Dĩnh Đạt chú rằng: “Xích hậu, chính là kiểm tra sự khó khăn vậy”. Sử ký – Lý tướng quân truyện: “Song cũng xa xích hậu, chưa từng gặp hại”. Tư Mã Trinh sách dẫn Hứa Thận chú Hoài nam tử rằng: “Xích là đo vậy, hậu là nhìn, xem vậy”, cũng là để chỉ binh mã làm công việc trinh sát. Tam Quốc chí – Gia Cát Lượng truyện chép: “Xa thì đuổi xích hậu”. Tam quốc chí – Tôn Thiều truyện có ghi: “Thường rất nhạy cảm với chiến trường, từ xa đã lấy xích hậu làm nhiệm vụ”.

Có thể thấy, hai nước Ngụy, Ngô rất coi trọng đối với công tác tình báo quân sự. Thục Hán lại càng không phải ngoại lệ. Ví như, Lưu Bị sau khi công chiếm Hán Trung, để tăng cường thông tin liên lạc giữa Thành Đô và Hán Trung đ㠓xây nhà trọ, dựng nhà nghỉ, từ Thành Đô tới Bạch Thủy Quan hơn 400 khu” (Tam Quốc chí – Tiên chủ truyện, quyển 13, chú dẫn Kinh lược). Khi Lưu Bị phạt Ngô, ven đường đã phái rất nhiều “xích hậu” để đảm bảo giữa tiền phương và hậu phương liên lạc được thông suốt, không gặp phải trở ngại gì.

Đương nhiên chúng ta cũng có thể giả thiết rằng, Lã Mông sau khi đánh chiếm Giang Lăng, phong bế tin tức, quân của Quan Vũ tại Kinh Châu toàn bộ đều bị bắt, không một người nào thoát ra để về báo tin. Nhưng vấn đề là, Đông Ngô vì chiến quả to lớn vừa giành được ra lệnh cho Lục Tốn “không lấy Nghi Đô, Tỉ Quy, Chi Lăng, Di Đạo, thuần phục Di Lăng, Ninh Hiệp khẩu để phòng bị quân Thục” (Tam Quốc chí – quyển 47, Tôn Quyền truyện). Cương vực của Tôn Ngô đã phát triển đến Vĩnh An, tức Bạch Đế thành, nằm ở phía Tây Thục Hán. Trong thế tiến công mạnh mẽ của Đông Ngô, “thái thú Phàn Hữu của Nghi Đô do Hán Trung Vương Lưu Bị cắt đặt”, bỏ thành mà chạy về Thành Đô (Tam Quốc chí – quyển 58, Lục Tốn truyện). Không cần nghi ngờ rằng, Lưu Bị, Gia Cát Lượng khi đó biết rất rõ tình hình chiến sự ở Kinh Châu, chỉ là việc Quan Vũ sống chết ra sao thì không biết được. Tam Quốc chí – Lục Tốn truyện có ghi rất rõ thời gian Nghi Đô thất thủ là vào “tháng 11 năm Kiến An thứ 12”, nghĩa là cho tới thời điểm Quan Vũ bị bắt còn hơn một tháng nữa.

Tôi cho rằng, nếu như khi đó Lưu, Lượng lập tức phát binh, ngày đêm gấp gáp tới cứu Quan Vũ, có thể còn cơ hội, cũng có thể không đạt đến mục đích, cứu binh chưa tới nơi thì Quan Vũ đã có thể gặp bất hạnh, Lưu, Lượng trong việc xử lý toàn cục còn có chút tình lý. Có thể nói là “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” được. Nhưng nếu như ngay cả người đặt mưu cũng không tận sức, thì sẽ phải giải thích ra sao đây?

Khổng Minh giết Quan Vũ, nguyên nhân vì đâu?

Vấn đề là, Trần Thọ khi biên soạn Tam Quốc chí và bản chú của Bùi Tùng đều không có dòng nào nói về cuộc bàn luận giữa Lưu Lượng về chuyện phát binh cứu trợ Quan Vũ. Điều này đương nhiên khiến người đời sau gặp không ít khó khăn. Chương Thái Viêm là bậc đại sư nghiên cứu quốc học thời cận đại, nhờ bản lĩnh học thuật rất dày dặn, nghiên cứu nghiêm cẩn mà trở nên nổi danh. Trong Cừu thư có chỉ ra “Gia Cát Lượng mượn tay người Ngô mà lấy mệnh Quan Vũ”. Đây tuy chỉ là dự đoán nhưng xác thực là có chỗ hợp lý, tuyệt đối không phải là lời bàn luận vu vơ.

Nhà sử học Phương Thi Minh cũng sử dụng quan điểm của Chương Thái Viêm, nhưng ông lại cho rằng không phải là Gia Cát Lượng muốn trừ Quan Vũ mà chính là Lưu Bị muốn trừ Quan Vũ. Lý do chính là Quan Vũ kiêu ngạo cuồng vọng, “không những đời sau khó không chế mà ngay cả khi Lưu Bị còn sống cũng cảm thấy khó mà nắm bắt được” (Phương Thi Minh, Tam Quốc nhân vật tán luận, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 2000, trang 236 - 238). Do đó có thể thấy, quan điểm của Chương Thái Viêm đã nhận được sự tiếp nhận của nhiều chuyên gia về Tam Quốc, chỉ là tập trung thảo luận Lưu, Lượng một trong hai người ai mới là kẻ muốn mượn đao Đông Ngô mà giết Quan Vũ.

Tôi cho rằng, gác sang một bên chuyện “đào viên kết nghĩa” mà mọi người đều biết, Tam Quốc chí – Quan Vũ truyện, có ghi rõ Lưu, Quan, Chương ba người “ngủ cùng giường, tình như thủ túc”, Quan, Trương “vì tiên chủ (Lưu Bị) mà bỏ sức, không ngại nguy hiểm, gian khổ”. Lòng trung của họ đối với Lưu Bị luôn luôn vững chắc, nghĩa làm lay động cả thần linh. Đồng thời, Lưu Bị đối với Quan, Trương tình như thủ túc cũng cảm đến trời xanh. Sau khi Quan Vũ chết, Lưu Bị rất hận con nuôi là Lưu Phong, không hề nghĩ đến tình cha con khi xưa mà xử tử Lưu Phong. Hành động lớn nhất của Lưu Bị sau khi xưng đế là thống lĩnh quân đội phạt Ngô báo thù. Quần thần phân tích lợi hại, cực lực phản đối, Lưu càng thịnh nộ không nghe. Cuối cùng khi phạt Ngô thất bại, cũng không thể báo thù cho Quan Vũ, mang bệnh mà chết. Sự thực cho thấy, kiến giải của Phương Thi Minh là có chỗ cần phải cân nhắc lại. Bởi vì, quan điểm của Chương Thái Viêm tuy là gan lớn, nhưng có thể nói là có đạo lý.


http://www.vietimes.com.vn/library/images/9/2008/06/4.jpg


Trong bài viết trước, tôi từng phân tích mâu thuẫn giữa Gia Cát Lượng và Quan Vũ. Tôi muốn bổ sung một chút nữa. Kỳ thực, giữa Vũ và Lượng không chỉ có sự tranh quyền ngấm ngầm mà điểm trọng yếu chính là quan điểm ngoại giao của họ đối với bên ngoài trong chiến lược tranh đoạt thiên hạ của Thục Hán là bất đồng. Liên Ngô, kháng Ngụy là hạt nhân trong chiến lược ngoại giao của Gia Cát Lượng, “giao hảo với Ngô, dựa vào Ngô mà Bắc phạt” (Vương Phu Chi, Độc thông giám luận, quyển 10). Gia Cát Lượng vì việc giao hảo với Ngô hao tổn không ít tâm sức trở thành tâm niệm xuyên suốt, đến chết cũng không bỏ sách lược ngoại giao này.

Nhưng Quan Vũ lại không mảy may thông hiểu sự lao tâm khổ tứ của Gia Cát Lượng. Vũ đối với chiến lược liên Ngô kháng Ngụy chỗ nào cũng đối lập với Gia Cát Lượng. Quan Vũ nhục mạ Tôn Quyền là cầm thú, còn nói rằng: “Nếu có Phàn Thành, ta lại chẳng tiêu diệt cái tà ác của người hay sao”. Ý của Quan Vũ là có một ngày chiếm được Phàn Thành, sẽ lập tức tích binh lực để diệt Ngô. Do đó có thể thấy, mỗi việc làm đều là phá hoại phương kế chiến lược của Gia Cát Lượng đề ra tại Long Trung đối. Vì thế, Chương Thái Viêm chỉ ra rằng nếu Gia Cát Lượng không trừ Quan Vũ, tất “sẽ là trở ngại đối với sách lược của ta”.

Vương Phu chi tường nói: “Muốn hợp họ Tôn để cùng nhau tính toán chuyện Trung Nguyên là Lỗ Túc, muốn họp cùng họ Tôn để cùng chống Tào, chính là Khổng Minh” (Vương Phu Chi, Độc thông giám luận, quyển 9).Trong trận chiến Xích Bích, Vũ không có chút công lao nào, “vì thế mà ghét Lượng, ghét Túc, vì thế ghét Ngô mà ghét Lượng, Túc kế đã thành nên mới làm cho mọi chuyện đổ vỡ để không thể như ý”. Thuyền Sơn tiên sinh phân tích cũng rất thấu đáo, Quan Vũ đã trở thành một hòn đá cản đường trong sách lược liên Ngô kháng Ngụy của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng trước chiến bại của Lâm Thư của Quan Vũ mà thấy chết không cứu cũng không phải không có nguyên do. Chúng ta hà tất phải quá kinh ngạc!

Cuối cùng, còn có một vấn đề nữa cần phải thảo luận, đó là việc Thục Hán có hay không bàn đến chuyện phát binh cứu trợ Quan Vũ. Tôi cảm thấy trong sự việc này còn có rất nhiều ẩn tình. Ở trên đã đề cập đến việc cả trong Tam Quốc chí và bản chú của Bùi Tùng hoàn toàn không xuất hiện một dòng nào về sự việc này. Điều này đối với người đời sau mà nói, thực là câu đố thiên cổ. Kỳ thực, chỉ sợ tác giả của Tam Quốc chí - Trần Thọ không nắm rõ sự thực lịch sử. Bởi vì khi Trần Thọ sinh (năm 233) cách khá xa với thời điểm Quan Vũ gặp nạn (năm 219). Đương nhiên đó chỉ là thứ yếu, quan trọng chính là ở chỗ, nhà Thục một đời không lập sử quan. Cho nên Trần Thọ sửa Thục thư, thu thập tư liệu không được như Ngụy, Ngô (Ngụy, Ngô đều đặt sử quan từ rất sớm). Ở Thục không có nơi lưu trữ của nhà nước, việc chỉ dựa vào những câu chuyện dân gian ít tin cậy, Trần Thọ khi soạn Tam Quốc chí cũng khó mà có thể biết được sự thật ra sao. Vì thế, số quyển Thục thư trong Tam Quốc chí rất ít, cũng rất giản lược. Điều quan trọng nữa là, phần Quan Vũ truyện trong Tam Quốc chí cũng rất ngắn, khiến cho hậu nhân không thể khảo chứng một cách chi tiết.

Thục Hán vì sao không tu sửa quốc sử, nguyên nhân cũng không rõ ràng. Tôi cho rằng, là ông vua khai quốc, trách nhiệm của Lưu Bị không lớn, nhưng thời gian ông làm hoàng đế rất ngắn, chưa đầy 3 năm thì đã mất ở Bạch Đế thành. Lưu Thiện lên ngôi, “việc chính sự không kể to nhỏ, tất đều giao cho Lượng” (Tam Quốc chí, quyển 35, Gia Cát Lượng truyện). Vì thế, việc Thục Hán không có sử quan có quan hệ rất lớn với Gia Cát Lượng. Còn vì sao Lượng lại làm trái nề nếp của nhà Hán thì rất khó nghiên cứu sâu được. Nhưng có thể mạnh dạn suy đoán rằng, rất có thể giai cấp thống trị Thục Hán có rất nhiều bí mật bê bối không muốn tiết lộ quá rộng rãi nên đã không đặt chức sử quan.

totenkopf
04-02-2009, 12:13 PM
Kiếm đc 2 cái bản đồ thời tam quốc:

http://i297.photobucket.com/albums/mm238/seniorNguyen/BandothoiTamQuoc.jpg

http://i297.photobucket.com/albums/mm238/seniorNguyen/map_rtk.jpg

Từ bản đồ thứ 2 có thể thấy khoảng cách Thành Đô (Chengdu) - bản doanh của Lưu Bị - tới Phàn Thành (Fancheng) rất xa, muốn cứu viện Quan Vũ sợ có đến cũng ko kịp. Hơn nữa hệ thống tin tức thời xưa chủ yếu dựa vào ngựa và hệ thống dịch trạm, ko phải cứ nhấc alô lên là xong như bây giờ. Nói vậy để thấy dù hệ thống truyền tin tốt lắm thì cũng vài ngày mới đến nơi, lại mất thêm thời gian chỉnh đốn đại quân thì khi quân cứu viện đến chắc cũng chỉ kịp dâng đồ phúng. Hơn nữa lúc này quân đội Thục Hán số lượng ko lớn, lại tập trung nhiều ở Thành Đô, lực lượng có thể ứng cứu Quan Vũ xuất phát từ Ích Châu có lẽ chỉ có đạo quân Ba Quận của Trương Phi. Tuy nhiên với tính khí Trương Phi thì cũng chưa biết ai cứu ai?????????????????????

Theo mình nghĩ, có lẽ Gia Cát Lượng và Lưu Bị ko phát binh là do nghĩ Lưu Phong và Mạnh Đạt sẽ cứu viện. 2 tướng này đóng giữ 17 thành Thượng Dung (Shang Yong) và Phòng Lăng (Fang Ling), binh lực tương đối, lại gần chiến trg. Điều Khổng Minh ko ngờ tới là Lưu Phong - dù là con Lưu Bị (con nuôi) - nhưng chỉ vì hiềm khích xưa kia đã ko tiếp ứng.

jaschabee
04-02-2009, 01:30 PM
Thực ra Tào Tháo cũng đâu có xấu.
"Gian hùng thời loạn,Năng thần thời trị."

Thà ta phụ người chứ ko để người phụ ta.
Đúng là Anh hùng tạo thời thế :D

Sau trận xích bích thì đúng là càng ngày càng thê thảm,mất hết hình tượng :D

Tuyệt Trí nể Tuyệt Gian
Tuyệt Gian nể Tuyệt Nghĩa
Tuyệt Nghĩa nể Tuyệt Trí :D

LonelySoul
13-05-2009, 01:20 PM
Hậu duệ của Mã Siêu đẹp zai:



Không ai ngờ rằng, sau gần 1.800 năm, hậu duệ của Mã Siêu (176 - 223), một trong "Ngũ hổ tướng" thời Tam Quốc lại được tìm thấy ở Armenia - quốc gia liên lục địa giữa châu Âu và tây nam châu Á.

http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/05/12/03/79851242118271.jpg (http://forum.gamevn.com/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fphoto.zing.vn%2Fph oto%2Fgallery_preview%2Fallsize.5824201.html)

Tưởng chừng tuyệt tích
Thời Tam Quốc, hai cha con Mã Đằng và Mã Siêu là nhân vật bi kịch của chính trường và là nạn nhân của Tào Tháo. Là một danh tướng vùng tây bắc Trung Hoa, hậu duệ của Phục Ba tướng quân Mã Viện, từ năm 211 Mã Siêu thống lĩnh 10 vạn binh chống lại quân Tào ở Đồng Quan, nhiều lần đánh cho Tào Tháo thất điên bát đảo, phải "cắt râu cởi áo" trốn chạy. Nhưng sau bị trúng kế ly gián, Mã Siêu bại binh, phải chạy về Thục theo Trương Lỗ, cuối cùng theo Lưu Bị, được phong làm Bình Tây tướng quân. Khi Vệ uý Mã Đằng bị Tào Tháo giết, gia tộc họ Mã ở Hứa Xương và Nghiệp Đô bị họa "diệt môn", tru di ba họ. Đến khi Trương Lỗ theo Tào Tháo, gia thuộc của Mã Siêu ở Hán Trung lại bị một phen thảm sát. Do đó, hậu thế cho rằng, gia tộc Mã Siêu đã bị tuyệt diệt...
Thế nhưng, đầu thế kỷ XXI, nhà sử học nổi tiếng Trung Quốc là GS Tô Trọng Tường công bố một phát hiện chấn động: Một truyền nhân của Mã Siêu là Mã Kháng đã thoát được họa tru di, trốn đi và phục hưng gia tộc họ Mã ở tận Armenia, hình thành nên gia tộc Mamikonean lừng danh. Nghiên cứu của GS Tô căn cứ vào bộ "Lịch sử Armenia" vào thế kỷ thứ V của sử gia Pawstos Buzand - người được mệnh danh là "cha đẻ của sử học Armenia".
Theo đó, vào đầu thế kỷ thứ III, có một nhánh người Trung Hoa di cư sang Armenia, người đứng đầu tên là Mamik (tức Mamgon hay Mã Kháng), tự xưng là thuộc hoàng tộc Trung Hoa, do đắc tội nên phải trốn sang Ba Tư (tức Iran ngày nay). Triều đình Trung Hoa truy nã đến Ba Tư, yêu cầu giao nộp, hoàng đế Ba Tư lúc này là Adrashir I chỉ cho những người lánh nạn vượt về phía tây đến Armenia. Hoàng đế Armenia đương thời là Adrashir II phân phong cho Mamik ở vùng Dalung, hình thành nên gia tộc Mamikonean. Tính thời gian trị vì của hoàng đế Adrashir I là năm 226 - 240, Adrashir II là năm 217 - 238 thì ứng vào thời điểm gia tộc họ Mã ở Trung Quốc bị họa diệt tộc.

Gặp lại cố nhân
Đầu năm 2005, nhóm phóng viên Tân Hoa Xã đã sang Armenia, tìm gặp những người trong gia tộc Mamikonean. Tại Thủ đô Yerevan, các phóng viên gặp được đại diện của gia tộc này là Suri Mamikonean, phó hội trưởng Hội Liên hiệp hữu nghị Gia tộc Mamikonean. Khi gặp phóng viên Mã Lương, Suri vui vẻ nói: "Thực ra tôi cũng là họ Mã, tổ tiên tôi đến từ Trung Quốc". Nhưng Suri không biết rốt cuộc ông tổ từ Trung Quốc là ai.

Theo "Lịch sử Armenia", Mamikonean một gia tộc hùng mạnh vào thời cổ trung đại của Armenia, đến nay vẫn còn rải rác ở vùng Tây Á. Gia tộc Mamikonean có công lớn trong việc giúp Armenia bảo vệ lãnh thổ, chống Ba Tư... Các hậu duệ của gia tộc này như Gardan Mamikonean, Garan Mamikonean đã trở thành anh hùng dân tộc của Armenia. Năm 1991, nước này đã lập ra huân chương "Gardan Mamikonean" tặng cho những người có cống hiến đặc biệt cho độc lập dân tộc. Tại Thủ đô Yerevan cũng có tượng người anh hùng này.

Theo GS Tô Trọng Tường, Mã Siêu có hai em là Mã Hưu và Mã Thiết, có ba con là Mã Thu, Mã Thừa, Mã Vân Lộc. Rất có thể Mã Kháng thuộc dòng trực hệ của gia tộc họ Mã may mắn thoát họa mới có thể hưng khởi gia tộc hùng mạnh ở xứ người. Thời gian Mã Kháng đến Armenia tỵ nạn là đúng vào thời Tam Quốc. Đối chiếu với các sự kiện sử chép như dòng họ (Mã), bị giết cả dòng tộc, bị triều đình truy nã... thì chỉ có dòng Mã Siêu là tương ứng. Khả năng Mã Kháng là hậu duệ của Mã Siêu là rất cao. Khi nghe nói dòng họ Mamikonean là hậu duệ của danh tướng Mã Siêu và xa hơn nữa là Mã Viện, ông Suri Mamikonean cảm động nói: "Thì ra tổ tiên của chúng tôi ở Trung Quốc cũng là dũng tướng trên sa trường".

LonelySoul
13-05-2009, 01:25 PM
Hậu duệ của Gia Cát Lượng râu dê

Thời Tam Quốc trôi qua hơn 1800 năm, giờ đây hậu duệ của những nhân vật lừng lẫy một thời như Gia Cát Lượng, Lưu Bị, Tào Tháo, Quan Công, Trương Phi, Mã Siêu.... đang sống như thế nào?
"Tôi là Gia Cát Tử Kỳ, hậu duệ đời thứ 63 của Khổng Minh Gia Cát Lượng" - lời giới thiệu của cô siêu mẫu thời trang người Canada gốc Hoa khiến hàng ngàn khán giả vỗ tay tán thưởng.


http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/05/12/03/31351242118493.jpg (http://forum.gamevn.com/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fphoto.zing.vn%2Fph oto%2Fgallery_preview%2Fallsize.5824249.html)


Ký ức gia tộc

Tên tiếng Anh của Gia Cát Tử Kỳ là Marie Zhuge, sinh năm 1983 tại Bắc Kinh. Lên 6 tuổi theo gia đình sang định cư tại Canada, năm 2004 trở về Hồng Kông làm người mẫu cho công ty người mẫu nổi tiếng Calcarries. Theo tiết lộcủa những nhà sản xuất chương trình thì Tử Kỳ có tố chất di truyền của ông tổ Gia Cát Lượng (Zhuge Liang): Rất thông minh, nắm bắt rất nhanh các kỹ xảo, tư thế tạo hình cũng như lời thoại. Thỉnh thoảng cô cũng bắt chước ông tổ ngày xưa, xem chỉ tay, bói dịch, xem phong thuỷ cho người khác.

Gia Cát Tử Kỳ kể rằng cô không nhớ rõ dung mạo của ổng tổ như thế nào. Trong bộ gia phả "Gia Cát thị tổng phổ" chép trên vải lụa, cô chính là hậu duệ đời thứ 63. Bộ gia phả này đã qua 15 lần tu chỉnh, lần đầu là vào đời Nam Tống (đầu thế kỷ XVIII), lần cuối là năm 1947. Những chuyện kể của các tiền bối trong gia tộc về ông tổ Gia Cát Lượng (181-234) giúp cho Gia Cát Tử Kỳ phân biệt được chỗ nào là thật, chỗ nào là giả trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Cô nói: " Về trận Không thành kế (kế mở rộng thành) đánh lừa Tư Mã Ý, ông cố tôi nói là do Thường thắng tướng quân Triệu Tử Long làm chứ không phải do ông tổ Gia Cát Lượng của tôi làm".

Về tên gọi của mình, Tử Kỳ cho biết: "Theo quy định trong gia tộc, tôi phải đặt tên 2 chữ. Cái tên "Tử Kỳ" của tôi là nhờ người trong gia tộc tìm đặt, ngụ ý là "bình an, ra ngõ gặp quý nhân". Nhưng mà, gia tộc đã đem đến cô không chỉ một cái họ, một cái tên....

Không quên cội nguồn, chú trọng hiếu đạo

Cha của Gia Cát Tử Kỳ chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu hàng điện tử, tuy di cư sang Canada nhưng vẫn cố giữ nếp sống theo gia phong ngà trước. "Nhà của tôi ở Canada đặt kệ sách quanh các bức tường, có đến hàng ngàn cuốn sách chữ Hán. Cha tôi luôn khuyến khích tôi viết chữ Hán bằng bút lông và tập vẽ tranh thuỷ mặc, nói rằng những thứ ấy giúp con người tĩnh lặng, bình hoà, rèn luyện sức tập trung cũng như hồi dưỡng khí chất". Tử Kỳ cũng được tập luyện kỹ về piano và vũ đạo.

Trong nhà Tử Kỳ ở Canada, bữa ăn tối bắt buộc mọi thành viênphải có mặt, ăn uống, trò chuyện đủ các thứ, từ chuyện đời thường đến quốc gia thời sự. Ở Hồng Kông, Tử Kỳ cũng thoải mái đàm luận chuyện thời sự với ký giả, từ chuyện chính trường Đài Loan đến chuyện Tổng thống Mỹ Obama nhậm chức.
"Đáng tiếc là tôi biết nhiều thứ nhưng không tinh thông một thứ nào. Tôi biết, cha tôi dạy tôi rất nhiều để bồi dưỡng nhân cách, tư tưởng cho tôi. Cha tôi là người con chí hiếu, đối với ông tôi luôn một mực tôn kính" - Tử Kỳ nói. Chính vì chịu ảnh hưởng sâu sắc vì hiếu đạo của người cha, nên khi đến sống ở Hồng Kông, được hỏi về vấn đề lối sống của thanh thiếu niên ở đây, Tử Kỳ than rằng: "Các bạn trẻ bây giờ chẳng giữ lễ phép ngay cả với người già, thử hỏi làm sao họ hiểu về tôn trọng người khác hay tôn trọng bản thân? Vì thế, vấn đề "Lễ - Nghĩa - Liêm - Sĩ" mà người xưa đề xướng đến nay vẫn còn giá trị".


Tại Trung Quốc hiện nay, hậu duệ các chi của Khổng Minh Gia Cát Lượng có khoảng 8000 người sống trong 11 thôn trấn thuộc 3 huyện thị là Kiến Đức, Lan Khuê, Long Du của tỉnh Triết Giang. Nổi tiếng nhất là thôn Gia Cát ở thị trấn Lan Khê, là trung tâm hoạt động của hậu duệ dòng Gia Cát với khoảng 2500 người. Nơi đây, riêng đời Minh, Thanh đã có 5 tiến sĩ, 11 cử nhân, hàng trăm tú tài. Các chuyên gia, học giả Trung Quốc đang đề nghị đổi nơi đây thành TP Võ Hầu.


Hậu duệ của Quan Công

Giới thương nhân gốc Hoa cỡ lớn trên thế giới không mấy người không biết đến cái tên Quan Anh Tài - người được xưng là "Thuyền vương Brunei", "Cự phú công thương Đông Nam Á"... Nhưng ít ai biết Quan Anh Tài (ảnh nhỏ) là hậu duệ đời thứ 72 của "Võ Thánh" Quan Công thời Tam Quốc.

Chân dung hậu duệ...

Quan Anh Tài sinh năm 1923 tại Kim Kê, Giang Môn, tỉnh Quảng Đông. Vốn là hệ chánh của Quan Công, tổ tịch ở Sơn Tây, sau khi triều Thục suy vong, dòng họ Quan dần dần chuyển xuống phía Nam, đến Phúc Kiến, Quảng Đông lập nghiệp.
Năm 15 tuổi, khi mới học xong tiểu học, Quan Anh Tài một mình rời Quảng Đông sang vùng Đông Nam Á mưu sinh. Đến Brunei (người Hoa gọi là Văn Lai) với hai bàn tay trắng, Quan Anh Tài xin làm phụ xe rồi trở thành tài xế xe ô tô loại nhỏ. Cần cù, chịu khó với quan niệm "Không tận lực, khó nên giàu", mỗi ngày Quan Anh Tài làm việc hơn 14 tiếng liên tục. Đầu những năm 1950, tích luỹ được ít vốn và kinh nghiệm, Quan Anh Tài mở một hãng xe buýt nhỏ. 10 năm sau, chớp thời cơ phát triển kinh tế ở Brunei, ông quyết định mở Công ty Xây dựng Anh Tài và Công ty Kim khí điện máy Mã Lai Dịch. Sự nghiệp ngày càng phát đạt, ông lấn sang các lĩnh vực ăn uống, giải trí, mở nhà hàng hải sản Brunei. Năm 1972, ông chuyển sang kinh doanh ở lĩnh vực hàng hải và địa ốc. Năm 1978, Quan Anh Tài sang Singapore lập công ty sửa chữa tàu biển, rồi sang Malaysia mở cơ sở lớn kinh doanh ngành phục vụ tàu biển và ăn uống. Hầu như lĩnh vực kinh doanh nào ông cũng thành công, giới thương nhân người Hoa gọi sự nghiệp của ông sáng rỡ như "mặt trời chiếu giữa trưa".


http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/05/12/03/29871242118751.jpg (http://forum.gamevn.com/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fphoto.zing.vn%2Fph oto%2Fgallery_preview%2Fallsize.5824341.html)



...không quên cố quốc

Hơn 70 năm lập nghiệp ở nước ngoài, Quan Anh Tài không quên cố quốc. Năm 1986, được biết Chính phủ Trung Hoa cho phép Hoa kiều được gửi tiền về nước, Quan Anh Tài nhiều lần gửi tiền về quê cũ ở Quảng Đông, Hà Nam, Hà Bắc tài trợ làm từ thiện, trường học, cầu cống, đường sá đến hơn 10 triệu nhân dân tệ (hơn 1 triệu USD) và được tặng danh hiệu "Công dân danh dự" của hơn 10 tỉnh thành, địa phương. Năm 2004, Quan Anh Tài được tiếp kiến thân mật với Tổng thống Mỹ Bush, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và các quan chức cấp cao Trung Quốc. Năm nay 87 tuổi, Quan Anh Tài vẫn khoẻ mạnh và hiện là chủ tịch Tổng hội Long Cương quốc tế (gồm thành viên là hậu duệ của Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi và Triệu Vân).

Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao 2007, Quan Anh Tài đưa thư mời Bill Gates sang thăm Hải Nam và hỗ trợ ông xây dựng "khu văn hoá Quan Công" tại đây. Trong thư Quan Anh Tài nhấn mạnh ông "là hậu duệ đời thứ 72 của Quan Công". Ông mong muốn Bill Gates hỗ trợ xây dựng "Khu văn hoá Quan Công" cùng bức tượng Quan Công cao nhất thế giới 118m tại Hải Nam để "thúc đẩy giao lưu văn hoá quốc tế, phát huy tinh thần "dũng, tín, nghĩa, thành" của Quan Công trong văn hoá cũng như kinh doanh trong thời kỳ hội nhập. (Còn nữa)

Theo "Quan thị tộc phổ", Quan Công là hậu duệ đời thứ 27 của trung thần Quan Long Phùng đời Hạ Kiệt - bị giết vì can gián vua. Ông nội Quan Công là Quan Thẩm, cha là Quan Nghị đều là người tinh thông kinh sách. Quan Công (Công Nguyên 161 - 219), tên thật là Quan Vũ, tự Trường Sinh, sau đổi là Vân Trường. Người có tướng lạ, sức khoẻ địch nổi muôn người, kết nghĩa huynh đệ với Lưu Bị, Trương Phi cùng phò nhà Hán, đứng đầu trong "Ngũ hổ tướng" nước Thục. Năm 219, Quan Công mắc mưu tướng Đông Ngô là Lục Tốn, thất thủ Kinh Châu, bị bắt và chém tại Mạch Thành lúc 58 tuổi. Sau khi nhà Nguỵ nắm quyền, con cháu họ Quan đổi thành họ Môn để tránh họa, đến đời Tây Tấn mới lấy lại họ Quan. Quan Công có con ruột là Quan Hưng, tài giỏi nhưng chết sớm, để lại hai cháu trai là Quan Thống và Quan Di. Đích tôn Quan Thống không có con, dòng Quan Di trở thành đại tông phái chính của hậu duệ Quan Công đến nay.

LonelySoul
13-05-2009, 03:46 PM
Trong chu vi 100km dọc theo bờ sông Phú Xuân (tại huyện Phú Dương, tỉnh Triết Giang, trọng điểm văn hoá lịch sử của Trung Quốc) là nơi tụ cư hàng ngàn năm nay của hậu duệ ba hoàng đế lừng danh thời Tam Quốc: Thục đế Lưu Bị, Ngô đế Tôn Quyền và Nguỵ đế Tào Tháo.

"Sống Kim, chết Lưu"

Thôn Thự Tinh, xã Ngư Sơn, huyện Phú Dương là vùng định cư của hậu duệ Thục đế Lưu Bị (161 - 223). Trong thôn có đền thờ Lưu Bị, hầu hết thôn dân đều mang họ Kim. Ông Kim Khôn Tiều, hậu duệ đời thứ 73 của Lưu Bị cho biết, bộ gia phả "Phú Xuân Lưu thị tông phổ" là báu vật trấn môn của gia tộc họ Lưu.

Theo gia phả ghi lại, sau khi Tư Mã Viêm soán Tào lên ngôi, lập ra nhà Tấn, kết thúc thời Tam Quốc, ra "chiếu diệt Lưu" (Tru Lưu chiếu) thì gia tộc họ Lưu phải rời vùng Tứ Xuyên đi tị nạn. Trong gia tộc quy định, họ Lưu bỏ đi bộ "mão" và bộ "đao", còn lại chữ Kim và lấy đó làm họ.

Gần 200 năm sau, triều Tấn diệt vong mới khôi phục lại họ Lưu. Nhưng đến đời Minh, dòng dõi Lưu Bị là hoạn quan Lưu Cẩn lộng quyền, năm 1510 bị xử lăng trì, triều đình lại muốn tru diệt họ Lưu nên con cháu họ Lưu lại chuyển thành họ Kim và di tản đến Triết Giang. Dòng họ Lưu lúc còn sống đều lấy họ Kim, chết đi mới thờ lại họ Lưu, đây là quy định "Tử Lưu hoạt Kim" (sống Kim, chết Lưu) của hậu duệ Lưu Bị. Long Môn: 96% là con cháu Tôn Quyền Thị trấn cổ Long Môn ở Phú Dương có hơn 7.000 người thì 96% là con cháu Ngô đế Tôn Quyền (182 - 252) và định cư ở đây đã hơn ngàn năm. Thị trấn này rộng khoảng 2km2, kiến trúc theo lối mê cung, đến nay còn giữ hoàn chỉnh các quần thể kiến trúc cổ độc đáo đời Nguyên, Minh, Thanh. Nổi tiếng có Từ đường họ Tôn, Lạc Thiện Đường, Minh Triết Đường, Bách Sư Đường, Đồng Hưng tháp... Tổ tiên của Tôn Trung Sơn cũng khởi nguồn từ đây. Gần đó có thôn Hoá Trúc cũng là một điểm tụ cư của con cháu Tôn Quyền, đều là hậu duệ của hoàng tử thứ ba của Tôn Quyền là Tôn Hoà và cháu là Tôn Hạo. Nơi đây còn giữ được bộ "Phú Xuân tông thị gia phổ" 57 cuốn do hoàng đế các đời Minh, Thanh nhuận sắc, được xem là "hoàng gia ngọc điệp" vô cùng trân quý.


http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/05/12/04/22651242118948.jpg (http://forum.gamevn.com/redirector.php?url=http%3A%2F%2Fphoto.zing.vn%2Fph oto%2Fgallery_preview%2Fallsize.5824427.html)


Thuỷ tổ của Tôn Quyền vốn là họ Trần tên Thư, người thời Xuân Thu, sau có công được Tề Vương ban họ Tôn... Tính ra đến nay dòng họ này đã truyền hơn 90 đời. Tôn Quyền tự là Trọng Mưu, giỏi về chính trị, đối thủ của ông là Tào Tháo từng nói "Sinh con thì nên như Tôn Trọng Mưu".

Cách thị trấn Phú Dương 20km về hướng tây nam là thôn cổ Vương Châu - cố hương của Tôn Quyền, bên trong thôn có miếu thờ Ngô Đại đế rất uy nghi, có bia của vua Quang Tự sắc lập đánh dấu đất phát tích của Ngô gia.

Và hậu duệ của Nguỵ Vũ đế Tào Tháo

Thôn Thượng ở Đông Đồ, Phú Dương, là một thôn cổ với hơn 1.500 người thì trên 90% mang họ Tào. Qua khảo xét thì đây là dòng chính của Tào Thực, con trai thứ của Nguỵ Vũ đế Tào Tháo (155 - 220). Theo đề tự trong "Tào thị gia phổ" thì cuối đời Nguỵ, họ Tào đã suy, quyền chính nằm trong tay dòng họ Tư Mã. Anh em Tư Mã Chiêu muốn soán đoạt ngôi vị nên thẳng tay bức hại con cháu họ Tào. Năm 266, Tư Mã Viêm phế nhà Nguỵ, lập nhà Tấn, lại càng tăng cường việc tàn sát hậu duệ Tào Tháo. Trong 25 người con của Tào Tháo chỉ có hai nhánh trốn thoát được. Một nhánh của Tào Thực từ huyện Hấp, tỉnh An Huy (cố hương của Tào Tháo) chạy về Triết Giang. Một nhánh khác của Tào Lâm chạy về Phiên Dương, tỉnh Giang Tây và đổi thành họ Tháo...

Nếu ông tổ của ba họ Lưu, Ngô, Tào chia ba thiên hạ, tranh chiếm giang sơn thì con cháu của họ giờ đây sống thanh thản, hoà ái với nhau. Tại Phú Dương, con cháu của Tôn Quyền hầu hết làm nghề thủ công, nổi tiếng trong sản xuất vợt cầu lông; Con cháu của Tào Tháo thì làm nghề sông nước, đánh bắt cá trên sông Phú Xuân; Con cháu Lưu Bị đa phần làm nghề nông, hầu như không ai tham gia chính trị.