đây là 19 mĩ nhân trong lịch sử Trung Quốc đoá, ey thấy đẹp quá nên đưa lên đây cho mọi người cũng chiêm ngưỡng
Bạn nào có hình đóng góp chung với ey cho vui nhé
Thập cửu mỹ nhân Trung Hoa
1. Tây Thi
Tây Thi (chữ Hán: 西施, bính âm: xi shi) là một người con gái đẹp thời Xuân Thu và là một trong Tứ đại Mỹ nhân Trung Quốc. Tây Thi có sắc đẹp được coi làm cá lặn (trầm ngư), là người đã có công trong việc giúp Phạm Lãi, Việt Vương Câu Tiễn diệt vua Ngô Phù Sai.
Theo tương truyền, thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở núi Trữ La, Gia Lãm, thuộc nước Việt cổ có một người con gái giặt áo (có tài liệu thì ghi là kiếm củi) họ Thi, ngũ quan đoan chính, phấn diện đào hoa, tướng mạo hơn người. Vì tại Trữ La có hai thôn: thôn Đông và thôn Tây, vậy nên người ta vẫn thường gọi nàng là Tây Thi (trong Việt Nữ Kiếm của Kim Dung, nàng tên là Di Quang ). Truyền thuyết kể rằng Tây Thi đẹp đến nỗi ngay cả khi nàng nhăn mặt cũng khiến người ta mê hồn (ặc ặc... chắc trời sinh vẻ mặt nhăn thì đẹp thôi!!!). Có tích còn viết, mỗi khi nàng giặt áo bên bờ sông, bóng nàng soi trên mặt nước sông trong suốt làm nàng thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy ảnh nàng, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng cô là “Trầm Ngư”.
Ngoài vẻ đẹp, Tây Thi còn nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa với những sự tích về mối tình Tây Thi - Phạm Lãi, Tây Thi - Phù Sai. Cả hai nhân vật vừa nói đến đều có thể coi là hai anh hùng thời đó. Trích một đoạn trong Đông Chu liệt quốc:
Tây Thi được ở đài Cô Tô với Phù Sai, mỗi khi đi chơi đâu thì nghi vệ chẳng khác gì phi Hậu. Trịnh Đán ở Ngô cung, ghen với Tây Thi, uất ức không nói ra được, hơn một năm thì chết. Phù Sai thương lắm, đem chôn ở núi Hoàng Mao và lập đền thờ cúng. Chuyện này sau sẽ kể tiếp, bây giờ hãy nói Phù Sai yêu Tây Thi, sai Vương Tôn Hùng lập ra cung Quán Khuê ở núi Linh Nham, trang sức toàn bằng châu ngọc để làm chỗ cho Tây Thi ra chơi. Ở đấy có lập ra Hưởng Điệp lang. Tại sao lại gọi là Hưởng Điệp? Điệp là chiếc guốc. Nguyên là người ta đào hầm ở dưới đất chỗ hành lang, đặt ở đấy rất nhiều chum, bên trên lát ván, để cho Tây Thi và cung nhân đi guốc lượn ở đấy, tiếng kêu leng keng, cho nên gọi là hưởng điệp. Trên núi có hồ Ngoạn Hoa, ao Ngoạn Nguyệt. Lại có giếng gọi là giếng Ngô Vương, nước trong suốt, Tây Thi thường đứng ở trên mà soi mặt, Phù Sai đứng ở bên cạnh, sẽ lấy tay vuốt tóc cho Tây Thi. Lại có động gọi là động Tây Thi, Phù Sai và Tây Thi cùng ngồi ở đấy, đá ở ngoài cửa động có nhiều chỗ sụt, nay người ta gọi là vết chân Tây Thi. Trên núi lại có Cầm Đài, Phù Sai thường cùng với Tây Thi gẩy đàn ở đấy. Phù Sai lại sai người trồng hoa ở Hương Sơn, để Tây Thi và cung nhân chở thuyền đi hái hoa. Nay vẫn còn một dãi nước ở phía nam núi Linh Nham, đó tức là chỗ Tây Thi hái hoa ngày xưa. Lại có Thái Liên hình ở phía đông nam thành đô, đó là chỗ Phù Sai cùng Tây Thi hái sen. Phù Sai lại bắt đào một con sông nhỏ ở trong thành, từ nam sang bắc, rồi làm cái buồm gấm để đi chơi thuyền, gọi là Cẩm Phàm hình. Phía nam đô thành có Trường Châu uyển, để làm nơi săn bắn. Lại có Ngư Thành để nuôi cá, Áp Thành để nuôi vịt, Kê Bi để nuôi gà, Tửu Thành để nấu rượu. Lại thường cùng với Tây Thi ra nghỉ mát tại Nam Loan ở Tây động đình, đó là một cái vịnh độ hơn mười dặm, ba mặt đều là núi, chỉ có mặt nam trông như cửa khuyết. Phù Sai cho chỗ ấy là một nơi có thể qua mùa hè được, mới đặt tên là Tiên hạ loan.
2. Điêu Thuyền
Http://files.myopera.com/himawari/al...ieu_thuyen.jpg
Điêu Thuyền (chữ Hán: 貂蟬, bính âm: diào chán) cũng được xếp trong một người đẹp của tứ đại mỹ nhân Trung Hoa và là một nhân vật nổi tiếng thời Tam Quốc. Điêu Thuyền là con nuôi trong nhà Tư đồ Vương Doãn, được gả cho cả 2 cha con nuôi Đổng Trác và Lã Bố để ly gián, dẫn đến kết cục Lã Bố giết Đổng Trác.
Rất tiếc là chưa tìm thấy tài liệu nào ghi rõ về xuất xứ của Điều Thuyền, chỉ biết nàng bị loạn Đổng Trác, gia cảnh tan tành, cha mẹ bị giết chết mất cả, nàng phải phiêu bạt lênh đênh, xin vào làm người ở cho quan Tư đồ Vương Doãn. Thấy nàng đẹp, có tài hát hay đàn giỏi nên Vương Doãn nhận làm con nuôi. Sau để báo ơn nuôi dưỡng, Điêu Thuyền đồng ý giúp Vương Doãn ly gián cha con Đổng Trác - Lã Bố.
Về sắc đẹp, tương truyền rằng, khi Điêu Thuyền bái nguyệt ở Hậu hoa viên của Tư Đồ Vương Doãn, đại thần của Hán Hiến Đế thời Tam Quốc, đột nhiên có một cơn gió nhẹ thổi đến, một vầng mây trôi che khuất mặt trăng. Đúng lúc đó, Vương Doãn bước ra nhìn thấy. Để khen con gái nuôi mình xinh đẹp như thế nào, Vương Doãn thường nói với mọi người rằng con gái mình đẹp đến nổi trăng sáng nhìn thấy cũng phải trốn vào sau lưng mây. Vì vậy, Điêu Thuyền được mọi người xưng tụng là “Bế Nguyệt”.
Về việc làm của Điêu Thuyền, "Thánh Thán ngoại thư" có đoạn phê bình:
Mười tám lộ quân chư hầu không giết nổi Đổng Trác, mà một thiếu nữ đào tơ liễu yếu như Điêu Thuyền lại giết nổi Trác. Ba anh em Lưu, Quan, Trương hùng liệt không thắng nổi Lã Bố, mà chỉ một nàng Điêu Thuyền lại thắng nổi. Ôi, lấy chăn chiếu làm chiến trường, lấy son phấn làm khôi giáp, lấy sóng mắt nụ cười làm gươm sắc giáo nhọn, lấy mày ngài làm cung nỏ, lấy nước mắt nũng nịu làm tên đạn, lấy lời tình tứ ngọt ngào làm chiến lược mưu cơ. Xem thế thì cái bản lĩnh của "Nữ tướng quân" quả là tuyệt cao cường, đáng sợ lắm thay!
Tây Thi với Điêu Thuyền cùng lấy sắc khuynh thành. Nhưng việc làm của Tây Thi còn dễ, việc làm của Điêu Thuyền khó hơn. Tây Thi chỉ phải đánh ngã một mình Ngô vương Phù Sai. Điêu Thuyền phải đồng thời đánh ngã cả Lã Bố lẫn Đổng Trác. Phải luôn luôn nghĩ mưu kế trong lòng, thay đổi bộ mặt để đối phó với cả hai bên. Ta nghĩ rằng cái công của Điêu Thuyền đáng ghi vào sử xanh. Nếu như, khi Đổng Trác đã bị giết rồi, Vương Doãn không vụng về mà gây ra cái loạn Lý Thôi, Quách Dĩ thì cơ đồ nhà Hán đã phục hưng ngay từ đó. Và như thế thì một cô gái như Điêu Thuyền há lại không đáng ghi tên vào nơi Phượng Các, không được tô tượng ở chỗ Lân Đài hay sao?
...
Cái tuyệt diệu của "Liên hoàn" không phải là làm cho Lã Bố giết Đổng Trác đâu! Nếu Trác cầm kích lao trúng, giết chết Lã Bố lúc bấy giờ, tức là Trác tự chặt một cánh tay, và Trác sẽ bị tiêu diệt dễ dàng ngay. Đó mới là chủ ý. Điều này đã nằm trong bụng Vương Doãn và có lẽ Điêu Thuyền cũng muốn thế. Vương Doãn lẽ nào lại yêu Lã Bố? Mà Điêu Thuyền cũng không yêu Lã Bố đâu?
Riêng ta, ta yêu nàng Tây Tử thật lòng trở về với Phạm Lãi; và yêu nàng Điêu Thuyền giả vờ sống thác với Lã Bố. Bởi vì tuy thân đứng trước Lã Bố, nhưng lòng Điêu Thuyền bao giờ cũng chỉ nghĩ đến một mình Vương Doãn mà thôi.
...
Sau khi thành Hạ Bì thất thủ, Lã Bố bị chết, đâu còn thấy bóng dáng nào ở chỗ nào? Nàng chính là con Rồng thiêng, chỉ lộ cái đầu, cái mình với đời, mà không cho đời sau biết cái đuôi mình ẩn đi đâu hết! Có thế danh tiếng mới khỏi bị tổn thương.
Trong lịch sử, đây là nhân vật có nhiều rất tai tiếng khi dẫn đến cái chết của cả Lã Bố lẫn Đổng Trác (mà ngày nay, nhiều người còn đem tên Điều Thuyền ra sử dụng như một tính từ chỉ người con gái có tính cách lừa lọc!!!). Thực ra mà nói thì khen, chê là do mỗi con người tự đánh giá. Riêng bản thân tôi thì cho rằng Điều Thuyền cũng chỉ là một người con gái xinh đẹp nhưng mang nặng tự tưởng phong kiến. Kết cục thì nàng mất nhiều hơn là được. Số phận của nàng đáng thương nhiều hơn là đáng trách!!!
3. Vương Chiêu Quân
Http://files.myopera.com/himawari/al...chieu_quan.jpg
Chiêu Quân (chữ Hán: 昭君, bính âm: zhào jun) là một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Với sắc đẹp được ví là "lạc nhạn" (làm cho chim sa), câu chuyện về nàng trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật.
Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân Cống Hồ trở thành một điển tích. Tồn tại nhiều dị bản, trong đó có nhiều chi tiết còn mâu thuẫn. Nổi tiếng hơn cả là bản kể theo những tài tiệu của nhà sử học Ngô Quân (469-520).
Chiêu Quân tên là Vương Tường (王牆), nên cũng được gọi là Vương Chiêu Quân (王昭君). Nàng là con gái của một gia đình thường dân ở Tuy Quỹ, được tuyển vào nội cung đời vua Hán Nguyên Đế (49 TCN-33 TCN). Vì số cung phi trong Hậu cung của vua Nguyên Đế quá đông, nên nhà vua ra lệnh cho các họa sĩ phải vẽ hình các cung phi để nhà vua chọn. Các cung phi thường lo lót tiền cho họa sĩ để được vẽ cho đẹp, mong vua để ý tới. Chiêu Quân từ chối đút lót cho họa sĩ là Mao Diên Thọ, Hậu quả bức chân dung nàng thật xấu xí, nàng không được Hán Nguyên Đế để mắt tới.
Một hôm hoàng Hậu tình cờ biết tới Chiêu Quân qua tiếng đàn lâm ly ai oán của nàng. Bà đưa Chiêu Quân tới gặp Hán Nguyên Đế. Hán Nguyên Đế ngỡ ngàng vì sắc đẹp của nàng, phong Chiêu Quân làm Tây Phi. Mao Diên Thọ bị khiển trách nặng nề.
Thời bấy giờ Hung Nô là nước lân bang thường xuyên mang quân sang quấy nhiễu. Mao Diên Thọ bị Hán Nguyên Đế quở trách, đem lòng oán hận Chiêu Quân, lấy chân dung Chiêu Quân nạp cho vua Hung Nô Thiền Vụ Chỉ. Vua Hung Nô say đắm sắc đẹp của nàng, cất quân sang đánh, buộc Hán Nguyên Đế phải cống nạp Chiêu Quân thì mới bãi binh. Hán Nguyên Đế đành phải đem Chiêu Quân sang cho Hung Nô.
Truyền thuyết "Chiêu quân xuất tái" (昭君出塞, "Đi đến biên cương") nói rằng, khi Chiêu Quân đi ngang một hoang mạc lớn, lòng nàng chan chứa nỗi buồn vận mệnh cũng như lìa xa cố thổ. Nhân lúc ngồi trên xe ngựa buồn u uất, liền đàn "Xuất tái khúc" bi tráng. Nhạn bay về phương nam nghe thấy tiếng đàn, nhìn thấy thiếu nữ mỹ lệ, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn, quên cả vỗ cánh mà sa xuống đất. Từ "lạc nhạn" trong câu "Trầm ngư lạc nhạn" do đó mà có.
Khi qua Nhạn Môn Quan, cửa ải cuối cùng, Chiêu Quân được cho là đã cảm tác nhiều bài thơ rất cảm động. Tiếng đàn của Chiêu Quân ở Nhạn Môn Quan trở thành điển tích Hồ Cầm.
Ngôi làng quê hương của nàng ngày nay mang tên là làng Chiêu Quân. Dòng suối, nơi tương truyền nàng từng ra giặt vải trước khi được tuyển vào hoàng cung, được đặt tên là Hương Khê (suối thơm) để tưởng nhớ nàng. Trong miền Nội Mông Cổ có hai địa điểm được cho là mộ của Chiêu Quân, một gần Hohhot và một gần Bao Đầu, cả hai đều xanh ngắt cỏ tươi, nên đều được gọi là Thanh Trủng (mồ xanh).
4. Dương Quí Phi
Http://files.myopera.com/himawari/al...ng_quy_phi.jpg
Dương Quí Phi (chữ Hán:楊貴妃, 719 - 756) là một cung phi của Đường Minh Hoàng. Nàng được xếp vào một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc.
Dương Quí Phi tên thật là Dương Ngọc Hoàn (楊玉環), sinh ở tỉnh Tứ Xuyên vào khoảng năm 719. Nàng là con út trong số bốn người con gái của một vị quan tư hộ đất Thục Chân. Gia đình này nguyên gốc ở một quận nhỏ thuộc Trung Đông (tức Thiểm Tây), là Hòa Âm đến đây lập nghiệp. Cha là Dương Huyền Diễn thuộc dòng khá giả vì tổ phụ từng làm thứ sử tại quận Kim.
Ngọc Hoàn có sắc đẹp được ví là "tu hoa" (có tài liệu ghi "hoa nhượng"), nghĩa là khiến hoa phải xấu hổ. Tương truyền nàng là một người khá mập mạp. Lý Bạch có ba bài Thanh bình điệu ca tụng ca tụng sắc đẹp của Ngọc Hoàn. Bài đầu tiên:
Thanh bình điệu
Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
Xuân phong phật hạm, lộ hoa nùng.
Nhược chi quần ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Đao đài nguyệt hạ phùng.
Năm 727, Hoàng Thọ vương Lý Dục, con thứ 18 của Huyền Tông đi tuần tiễu miền Tứ Xuyên đến tiếp xúc với gia đình nàng. Chín năm sau, Ngọc Hoàn được tiến cung hầu Lý Dục. Thọ vương Lý Dục tính nhút nhát, thích ngắm mỹ nhân. Dương Ngọc Hoàn về hầu hạ Lý Dục được ba năm, nhưng chuyện chăn gối chẳng bao giờ có vì Lý Dục còn nhỏ. Khi ấy, Ngọc Hoàn lại trong tuổi dậy thì.
Đời nhà Đường, Đường Minh Hoàng tứ Huyền Tông là một ông vua trị vì lâu hơn cả. Các cung phi được nhà vua sủng ái sinh cả thảy 59 người con, trong số đó có 30 trai và 29 gái. Cung phi được nhà vua sủng ái nhất là Vũ Huệ Phi. Nàng sinh được 7 con, nhưng bỏ mất 3 khi còn nhỏ. Huệ Phi mất, Huyền Tông buồn rầu, ngày nhớ đêm thương, lập đài Tập Linh để cầu siêu cúng vái cho vong hồn Huệ Phi được sớm siêu thăng. Nội giám thấy nhà vua vậy bèn tìm đủ mọi cách làm cho nhà vua nguôi buồn. Nhưng bao nhiêu cung tần mỹ nữ cũng không làm Huyền Tông khuây khỏa.
Một hôm Cao Lực Sĩ đi qua phủ Thọ vương thấy Ngọc Hoàn là giai nhân tuyệt sắc, bèn nghĩ rằng có lẽ mỹ nhân này thay được Vũ Huệ Phi. Nhân buổi hầu vua, Cao Lực Sĩ mật tấu với Huyền Tông, truyền đưa Dương Ngọc Hoàn vào Tập Linh đài để trông coi đèn nhang sớm hôm cầu nguyện cho Vũ Huệ Phi. Do đó, Ngọc Hoàn phải vào cung Hoa Thanh đến đài Tập Linh làm sãi, lấy đạo hiệu là Thái Chân. Cao Lực sĩ lại chọn con gái của Vị Chiêu để thay Ngọc Hoàn làm vợ Thọ vương Lý Dục.
Trông thấy Ngọc Hoàn, Huyền Tông say mê mẩn ngay, từ đó dần quên đi Huệ Phi. Huyền Tông lập nàng làm quí phi, lại sắc phong Dương Huyền Diễn làm Binh bộ thượng thư. Ba chị của Ngọc Hoàn cũng được phong làm phu nhân là Hàn quốc phu nhân, Quốc quốc phu nhân và Tần quốc phu nhân. Hàng tháng, nhà vua cho xuất của kho 30 vạn quan tiền cho mỗi vị phu nhân, 10 vạn quan tiền mua sắm tư trang phấn sáp. Anh họ quí phi là Dương Xuyên được phong làm tể tướng và được đổi tên là Dương Quốc Trung.
Huyền Tông say đắm Dương Quí Phi, chiều chuộng nàng hết mực. Như cuộc đi tắm suối của nàng mỗi lần tốn hàng vạn bạc của kho và làm chết hàng trăm mạng người (?), nhà vua cũng thẳng tay, không chút tiếc rẻ. Dương Quí Phi đã đẹp lại có tài gẩy tỳ bà, giỏi về âm nhạc. Nàng lại đặt được nhiều khúc hát và điệu múa làm cho Huyền Tông càng thích thú say sưa hơn.
Huyền Tông gặp Dương Quí Phi lúc tuổi đã ngoài 50, cơ thể suy nhuợc vì trải qua những thú vui sắc dục thái quá. Vua nhờ An Lộc Sơn dâng một thứ linh đan gọi là "Trợ tình hoa" giúp có nhiều sức khỏe để được hòa hợp vui say cùng Dương Quí Phi.
Huyền Tông say đắm Dương Quí Phi, suốt ngày đêm cùng nàng yến tiệc đàn ca, bỏ cả việc triều chính. Nhà vua lại tin dùng An Lộc Sơn là một võ tướng Phiên, cho giữ phần chỉ huy nửa lực lượng quân sự của triều đình. Có sách lại chép An Lộc Sơn được Dương Quí Phi nhận làm con nuôi, được tự do ra vào cung cấm để cùng thông dâm với quí phi. Huyền Tông mù quáng, không hiểu biết gì cả.
Bấy giờ, Dương Quốc Trung nắm giữ toàn quyền binh lực. Sau khi lên đến bực thượng thư và hai con trai là Dốt và Huyên sánh duyên cùng hai quận chúa Vạn Xuân và Diên Hòa, Dương Quốc Trung lại càng kiêu hãnh, tự đắc, có ý định phản nghịch. Thấy An Lộc Sơn như cái gai trước mắt nên định mưu hại. An Lộc Sơn biết được nên bỏ trốn. Rồi vào ngày 16 tháng 12 năm 755, An cử binh từ quận Ngư Dương (có tài liệu ghi là Phạm Dương) đánh thẳng vào kinh đô Trường An. Binh triều đại bại.
Vào mùa hạ năm 756, quân của An Lộc Sơn tiến đến Trường An. Nhà vua (thực ra khi đó Thái tử Lý Hanh tự lên ngôi, Đường Minh Hoàng trở thành Thái thượng hoàng) và Dương Quí Phi cùng một số quần thần phải bỏ kinh thành chạy vào đất Thục. Ngày 14 tháng 7 năm 756, mọi người đến Mã Ngôi thì tướng sĩ không chịu đi nữa, vì lương thực đã hết, quân sĩ khổ nhọc mà Dương Quốc Trung và cả gia quyến đều no đủ sung sướng, nên họ nổi lên chống lại. Dương Quốc Trung ra lệnh đàn áp nhưng bị loạn quân giết chết. Lòng căm phẫn đối với họ Dương chưa tan, loạn quân bức vua đem thắt cổ Dương Quí Phi thì họ mới chịu phò vua. Vì họ cho rằng quí phi là mầm sinh đại loạn.
Nhà vua không còn cách này khác, đành phải hy sinh Dương Quí Phi. Khi đó nàng 38 tuổi.
An Lộc Sơn chiếm được Trường An, ra lệnh cho quân lính đốt phá kinh đô, tàn sát nhân dân. Sử chép: "Có 36 triệu sinh linh chết trong cơn loạn ấy. Rợ Phiên gặp ai cũng chém cũng giết, thực là một cuộc đổ máu không tiền khoáng Hậu trong lịch sử Trung Hoa, mà nguyên nhân sâu xa là do cái sắc của một người đàn bà dâm loạn".
Sau An Lộc Sơn bị con là Khánh Tự giết chết. Bộ tướng là Sử Tư Minh lại giết Khánh Tự mà hàng nhà Đường. Minh Hoàng khôi phục sự nghiệp, trở về Trường An.
Về sắc đẹp của nàng, còn có một điển tích, khi Dương Ngọc Hoàn được tuyển vào cung. Sau khi vào cung, Ngọc Hoàn tư niệm cố hương. Ngày kia, nàng đến hoa viên thưởng hoa giải buồn, nhìn thấy hoa Mẫu Đơn, Nguyệt Quý nở rộ, nghĩ rằng mình bị nhốt trong cung, uổng phí thanh xuân, lòng không kềm được, buông lời than thở: "Hoa a, hoa a ! Ngươi mỗi năm mỗi tuổi đều có lúc nở, còn ta đến khi nào mới có được ngày ấy?". Lời chưa dứt lệ đã tuông rơi, nàng vừa sờ vào hoa, hoa chợt thu mình, lá xanh cuộn lại. Nào ngờ, nàng sờ phải là loại Hàm Xú Thảo (cây mắc cỡ ). Lúc này, có một cung nga nhìn thấy, người cung nga đó đi đâu cũng nói cho người khác nghe việc ấy. Từ đó, mọi người gọi Dương Ngọc Hoàn là "hoa nhượng".
5. Trác Văn Quân
Http://files.myopera.com/himawari/al...c_van_quan.jpg
Điển tích về Trác Văn Quân là câu chuyện tình với Trường Khanh, tức Tư mã Tương Như có tiếng đàn tuyệt chiêu, đặc biệt là khi gảy khúc Phượng Cầu, trong lòng thiếu phụ, gái thanh xuân bỗng như sóng trào.
Thời ấy, Trác Văn Quân thuộc hàng quốc sắc thiên hương, con của tri huyện Thiểm Tây Trác Bá Lộc. Nàng được gã cho thư sinh Vương Hàm Tân, đỗ tú tài rồi nhưng vẫn tiếp tục việc bút nghiên. Nửa năm hương lửa đang nồng, Hàm Tân bỗng lâm bạo bệnh từ trần. Nửa đời hồng nhan dang dở. Trong suốt thời gian làm tuần, nàng ngồi rũ rượi bên bàn thờ chồng. Bỗng một đêm, văng vẳng từ bên kia sông, tiếng đàn ai theo với lời ca não nùng:
Tình yêu là mối dây oan
Hoa tươi nghĩ lúc hoa tàn tủi thân.
Hoa tàn hoa rụng - Hoa héo đầu cành
Hận ngày xanh - Tủi ngày xanh
Kiếp hoa ngắn ngủi
Mưa gió tan tành
Nguyệt đan mành
Hoa tàn tạ
Cảnh bâng khuâng
Yêu nhau không trọn
Đời bạc như vôi
Tình xưa ai đã phụ rồi
Người xưa như thế thì thôi còn gì
Mối tình si - lệ lâm ly
Thà rằng quen biết nhau chi
Biết nhau như thế ước gì mà mong
Ôi tiếng đàn câu ca như xé tâm can. Trác Văn Quân gọi tỳ nữ Thanh Mai vào thơ phòng, hỏi:
- Tiếng đàn của ai bên sông sao nghe buồn bã quá, lòng ta xao động khôn cùng. Người hãy sang sông tìm thử ai đang réo rắt tiếng tơ trùng này.
Đêm đã khuya, nhưng may con ánh trăng vằng vặc. Thanh Mai vâng lời chủ, gọi đò sang sông. Cô lái đò giải thích cho Thanh Mai:
- Có chàng trai từ phương xa đến đây tên là Tư Mã Tương Như Trường Khanh. Chàng có khúc nhạc mê hồn Phượng Cầu Hoàng, đàn bà con gái không sao cưỡng lại sức quyến rũ, mê mẩn khi nghe khúc nhạc này.
Thanh Mai chỉ hiểu mơ hồ lời giải thích của cô lái đò và tìm đến gần phía trang viên. Bên trong thấp thoáng nhiều bóng hồng đang đùa cợt lả lơi quanh một chàng trai trẻ đẹp. Sửng sờ, cô tỳ nữ bị chôn cứng chân đến gần tảng sáng mới lần bướ ra về, thưa chuyện cho cô chủ:
- Em đã tìm đến trang viên... Ở đó có vườn hoa đẹp, có chàng trai tên là Trường Khanh, có tiếng đàn làm mê hoặc đàn bà con gái khắp vùng này.
Trác Văn Quân bỗng hở dài, nét hoa thêm phần ủ dột, thảo nào, lòng tạ. Suốt ngày hôm đó, nàng ngồi câm nín bên lan can, vành khăn tang trễ xuống ngang vai, khói hương bàn thờ chồng cũng tắt ngấm. Rồi ngày một ngày hai, tiếng đàn sao im bặt... Qua đêm thứ ba, Văn Quân không dìm được nỗi lòng, gọi Thanh Mai vào:
- Đã hai đêm ta không nghe được tiếng đàn, trong người khó thở. Người hãy tìm đến chàng, trao thư này cho tạ Thanh Mai ngập ngừng can ngăn:
- Tiểu thư chưa quen biết, sao lại trao thơ cho người lạ, lệnh lang cũng vừa mệnh chung...
Văn Quân như mất hồn, ừ thì thôi vậy, nếu người không trao thư cho ta, thì hãy đưa ta đến tìm gặp người đó. Nói xong, vội vàng Văn Quân cởi bỏ tang phục, ăn mặc cực kỳ diêm dúa, kéo xệch Thanh Mai xuống đò, sang ngang. Gần đến trang thanh viên, Văn Quan hối hả bước vội. Nhưng khi đến gần, được Thanh Mai chỉ cho trông thấy dung mạo người trong mộng, Văn Quân bỗng thẹn thùng, on người đàn bà đoan chính, một thoáng chốc... Nàng run rẩy quay gót chạy trở về. Tràng Khanh cũng biết có nguời đang nhìn trộm mình rồi bỏ chạy, nhưng vướng víu các kiều nữ đang quấn chặt lấy mình, nên không theo đuổi kịp. Sau đó, tuy trễ một chuyến đò, Tràng Khanh cũng tìm đến được bên ngoài phủ quan, biết ngươì thiếu phụ là Trác Văn Quân, góa phụ trẻ đẹp tuyệt tác trần gian. Tràng Khanh nghĩ, ta sẽ có nàng.
Trác Văn Quân về đến thơ phong, vất bỏ xiêm ỵ mặc lại tang phục, đến ngồi lặng yên bên bàn thờ chồng. Nửa đêm về sáng, bỗng tiếng đàn lại vọng lên. Ôi nó réo rắt mời gọị Người góa phụ cố bịt kín lấy đôi tai, nhưng âm thanh lại càng xoáy vào hồn. Nàng dẫy dụa trong dằn vặt nhưng thôi, ánh trăng mờ dần... Nàng thẩn thờ đứng dậy, lại cởi bỏ tang phục, thay đổi xiêm y sặc sỡ, nhanh bước ra bờ sông. Khi đã đưa nàng sang bên kia bờ, cô lái đò hỏi:
- Thưa bà, tiện nữ sẽ đợi đến bao giờ để đưa bà về.
- Không, đừng hoài công chờ đợi. Ta đã vào khúc Phượng Cầu, e không có ngày trở lại.
Sau này, đôi trai gái đó mở một quán nấu rượu. Vợ chồng cùng cặm cụi làm ăn.
Sau Hán Vũ Đế đọc bài "Tử hư phú" của Tương Như, khen tài mới vời vào triều, ban chức tước. Lại sai chàng cầm cờ tiết, thay nhà vua về Ba Thục chiêu an bọn phụ lão tùng phục nhà Hán. Lần này thỏa chí bình sinh, Tương Như áo gấm vinh quy được người đón rước long trọng. Nhưng làm quan ít lâu, lại chán, cáo bịnh lui về quê.
Trong "Bích Câu kỳ ngộ" có câu:
Cầu hoàng tay lựa nên vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào.
Và, trong "Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du cũng có câu:
Khúc đâu Tư Mã phượng cầu,
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng!
Là đều do điển tích trên.
6. Ban Chiêu - nhà nữ sử học đầu tiên Trung Quốc
Http://files.myopera.com/himawari/al.../ban_chieu.jpg
Ban Chiêu sinh vào thời Đông Hán Trung Quốc cách đây hơn 2000 năm, còn gọi là Ban Phi, bà xuất thân trong một gia tộc nổi tiếng, rất có tài hoa về văn học. Cha tên là Ban Bưu là nhà văn nổi tiếng Trung Quốc thời bấy giờ, Ban Chiêu thưởng được mời vào Hoàng cung để dạy kinh sử cho hoàng hậu và các quý nhân trong cung đình. Năm 14 tuổi, Ban Tiêu gả cho Tào Thế Thúc, tổ ấm của đôi vợ chồng trẻ này rất hạnh phúc.
Tài khiếu viết văn của Ban Chiêu trước hết thể hiện trong quá trình giúp anh trai tên là Ban Cố viết cuốn "Tiền Hán Thư", đây là cuốn sử đoạn đại mang thể loại ký truyện đầu tiên của Trung Quốc, có địa vị ngang hàng với cuốn "Sử Ký" của Tư Mã Thiên thời Tây Hán trên lịch sử. Cha của Ban Chiêu là người đầu tiên bắt tay vào việc viết bộ sử này, sau khi cha qua đời, anh trai Ban Chiêu tên là Ban Cố tiếp tục hoàn thành việc này, không ngờ Ban Cố bị một vụ án làm iên lụy rồi bị chết trong ngục. Trước kia Ban Chiêu cũng tham gia vào cả quá trình viết bộ sử này, sau khi cha và anh trai qua đời, bà tiếp tục nối nghiệp cha anh, cho mãi đến khi hoàn bộ sách này. Sau khi bộ "Tiền Hán Thư" cho xuất bản, đã được sự đánh giá rất cao. Chương gay cấn nhất trong "Tiền Hán Thư" là bảng thứ 7 "Bảng bách quan công khanh" và chí thứ 6 "Thiên văn chí", hai bộ phận này về sau đều do Ban Chiêu hoàn thành.
Học thức của Ban Chiêu hết sức tinh túy, để cầu được sự chỉ dẫn của Ban Chiêu, nhà học giả lớn hồi bấy giờ tên là Mã Dung đã phải quỳ ở bên ngoài thư viện đọc sách của Ban Chiêu để lắng nghe bà giảng giải.
Ban Chiêu có một người em trai tên là Ban Siêu, chàng cũng là một người viết văn, về sau gác bút ra trận, lập nên nhiều chiến công lẫy lừng, và được phong làm Định Viễn Hậu, khiến nhà Hán lừng danh khắp Trung Á và Tây Á suốt 30 năm. Năm thứ 12 Vĩnh Nguyên thời Hán Hoà Đế, Ban Siêu đã cao tuổi, ông nhờ con trai đến Lạc Dương để chầu chương vua, bày tỏ mong muốn được trở về quê hương để hưởng những năm cuối đời về già. Thế nhưng trong suốt ba năm liền nhà vua không hề đoái hoài đến nguyên vọng của Ban Siêu. Nghĩ đến người anh trai của mình Ban Cố đã qua đời, Ban Chiêu hết sức thương cảm trước tâm trạng của Ban Siêu đã hơn thất thập mà còn phải sống trên đất khách quê người, quyết định bất chấp hết thảy đi thuyết phục hộ cho Ban Siêu.
Thế là Ban Chiêu trình thư lên vua, trong thư Ban Siêu dẫn lại nhiều điển tích, ám thị nhà vua nên thương hại cho người em trai mình đã tuổi cao sức yếu muốn trở về quê nhà, bài viết của Ban Chiêu có tình có lý, vua đọc xong cũng phải động lòng. Không bao lâu, nhà vua liền cử một vị đại tướng thay thế Ban Siêu. Chính vài viết của Ban Chiêu đã thuyết phục nhà vua cho phép Ban Siêu rời khỏi triều đình.
Tài viết văn của Ban Chiêu còn thể hiện trong bài số 7 mang tựa đề "Nữ giới". Bài viết này chủ yếu nói lên phụ nữ con gái nên ăn nói đi đứng như thế nào, nên sử lý công việc quan hệ gia đình ra làm sao, bài viết này của Ban Chiêu vốn là cuốn giáo khoa gia giáo riêng của gia đình mình để khuyên răn con gái gia tộc họ Ban, không ngờ về sau bài viết này được truyền tay chép trong khắp Kinh thành, rồi sau nữa truyền ra và nổi tiếng khắp cả nước.
Ban Chiêu chủ yếu sống trong thời Hán Hoà Đế, về sau nhà vua băng hà, vua mới lên nối ngôi lại ít tuổi, thái hậu bèn ra triều sử lý việc nước. Ban Chiêu được tôn làm sư phụ tham gia vào các công việc triều đình, bà hết lòng trung hiếu, dốc hết tài trí của mình cho đất nước. Về sau Ban Chiêu tuổi cao sức yếu rồi qua đời, Thái Hậu liền mặc áo đơn sơ để tưởng niệm và làm lễ quốc táng để tiễn đưa bà đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Ban Chiêu là một người phụ nữ tài ba, học vấn uyên bác, phẩm chất cao thượng, bà không những là một nhà sử học, nhà văn học mà còn là một nhà chính trị nổi tiếng thời cổ Trung Quốc.
7. Thái Diễm
Http://files.myopera.com/himawari/al.../thai_diem.jpg
Thái Diễm cũng gọi là Thái Văn Cơ, một nữ sĩ tài hoa đời Tam Quốc (220-264). Cha nàng là Thái Ung, có tài thẩm âm vào bực nhứt cổ kim. Tương truyền, thấy một người chụm củi, ông bảo: "Tôi nghe tiếng củi đó nổ, biết là củi tốt, sao đem chụm cho uổng". Ông xin khúc củi về, làm một cây đàn, tiếng rất trong.
Nàng Thái Diễm lên 8 đã giỏi đàn. Có chồng là Vệ Đạo Giới nhưng lại góa chồng sớm, không con. Đương lúc Đổng Trác nổi loạn, nàng bị rợ phương bắc bắt về đất Phiên, phải sống tủi nhục ở với Hung Nô. Nàng nhớ quê hương, mới làm ra 18 khúc kèn rợ Hồ. Những bản nhạc này truyền vào Trung Nguyên. Tào Tháo là chúa nước Ngụy, trước vốn là bạn thân của cha nàng, nay lại thưởng thức bản nhạc, động lòng thương xót, mới sai người đem ngàn lượng vàng lên phương bắc chuộc nàng về.
Vua đất Hồ là Tả Hiền vương vốn sợ uy thế của Tào Tháo phải cho người đưa nàng về Hán. Tháo lại đứng làm chủ gả nàng cho Đổng Kỷ.
Khi về nước, nàng Thái Diễm có làm bài "Bi phẫn thi" dài 540 chữ, tả nỗi long đong của nàng, lời cực kỳ thống thiết, mỗi chữ như một giọt lệ.
Dục tử bất năng đắc,
Dục sinh vô nhứt khả.
Bỉ sương giả ha cô?
Nãi lao thử ách họa!
Nghĩa:
Muốn chết mà không được,
Muốn sống thêm vất vả.
Hỡi trời xanh tội gì?
Bắt ta gặp tai họa!
Hồ phong xuân hạ khởi,
Phiên phiên suy ngã y,
Túc túc nhập ngã nhĩ.
Cảm thời niệm phụ mẫu,
Ai thán vô cùng dĩ!
Nghĩa:
Xuân hạ, gió Hồ nổi,
Phất phất tà áo ta.
Ào ào bên tai thổi,
Cảm xúc sinh nhớ nhà,
Cùng khổ thay nông nỗi.
(Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)
Một hôm, Tào Tháo đem quân đánh Lưu Bị, tiện đường ghé thăm. Đổng Kỷ làm quan xa chỉ có nàng ở nhà. Nghe tin Tháo đến, nàng vội ra rước vào. Tháo ngồi trên sập, nàng thi lễ xong chắp tay đứng hầu bên. Tháo nhìn lên vách, chợt thấy một tấm bìa treo, có ghi bài văn bia, bèn đứng dậy bước đến xem và hỏi nguồn gốc. Thái Diễm thưa:
- Đây là bài văn bia đề một nàng Tào Nga. Xưa đời Hòa Đế, ở vùng Thượng Ngu có một người đồng bóng tên Tào Vu, hay lên đồng nhảy múa. Một hôm vào ngày mồng 5 tháng 5, Vu say rượu, đứng múa may trên thuyền, sẩy chân té xuống sông chết. Cô con gái của Vu vừa lên 14 tuổi, quá thương cha, cứ đi dọc bờ sông kêu khóc suốt 7 ngày đêm, rồi nhảy xuống nước mất tích. Qua 5 ngày sau, bỗng thấy nàng đội xác cha nổi lên mặt sông. Người trong làng vớt xác cả hai chôn cất. Quan huyện Thượng Ngu là Đỗ Thượng tâu việc ấy về triều. Triều đình khen nàng Tào Nga là gái hiếu, truyền cho lập bia. Đỗ Thượng lại sai Hàn Đan Thuần làm bài văn khắc vào bia để ghi lại việc ấy. Hàn Đan Thuần bấy giờ mới 13 tuổi, cầm bút viếc ngay một hơi thành bài văn, chẳng phải sửa chữa một chữ. Đỗ Thượng chịu là hay, cho khắc vào bia dựng bên mộ nàng Tào Nga. Thời bấy giờ, ai đọc cũng lấy làm lạ. Tiếng văn hay đồn dậy xa gần... Phụ thân thiếp nghe tiếng cũng tìm đến xem, gặp lúc trời tối, không nhìn thấy chữ, phải sờ vào bia, lần từ nét mà đọc. Đọc xong, người lấy bút viết 8 chữ lớn vào sau lưng bia. Về sau, có người khắc cả 8 chữ vào đấy.
Tào Tháo thấy 8 chữ ấy cũng ghi trên bức bia, bên cạnh bài văn như sau: "Hoàng quyến, ấu phụ, ngoại tôn, tê cửu".
Tháo hỏi Diễm:
- Nhà ngươi có hiểu ý nghĩa 8 chữ này không?
Nàng thưa:
- Tuy là di bút của cha, nhưng thú thật thiếp cũng hiểu ý nghĩa ra sao.
Tháo quay lại hỏi các mưu sĩ, mọi người đều chịu không biết. Bấy giờ có quan Chủ bạ là Dương Tu lên tiếng:
- Tôi hiểu ra rồi.
Tu giải:
- Tám chữ đó là ẩn ngữ của Thái Ung. "Hoàng quyến" là lụa màu vàng, tức là màu sắc của tơ (ti sắc), chữ "ti" với chữ "sắc" hợp lại thành chữ "tuyệt". "Ấu phụ" nghĩa là con gái còn nhỏ, tức là "thiếu nữ". Chữ "thiếu" đứng bên chữ "nữ" hợp thành chữ "diệu". "Ngoại tôn" là cháu ngoại. Cháu ngoại tức là đứa con của con gái mình (nữ nhi tử). Chữ "nữ" chắp với chữ "tử" thành chữ "hảo". "Tê cửu" là cái cối giã hành tỏi. Cái cối là vật chịu cay (thụ tân). Chữ "thụ" đặt bên chữ "tân" thành chữ "từ". Tóm lại, đó là ẩn chữ "Tuyệt diệu hảo từ", tức Thái Ung đã hết lời khen tặng văn chương của Hàn Đan Thuần vậy.
Mọi người đều khen Dương Tu tài thức mẫn tiệp.
8. Tạ Đạo Uẩn
Http://files.myopera.com/himawari/al...ta_dao_uan.jpg
Cháu gái Tạ An, người xuất hiện trong điển “Vịnh Nhứ Tài”. Tác phẩm tiêu biểu : “Đăng Sơn”
Nga nga đông nhạc cao,
Tú cực xung thanh thiên.
Nham trung gian hư vũ,
Tịch mịch u dĩ huyền.
Phi công phục khí tượng,
Vân cấu thành tự nhiên.
Khí tượng nhĩ hà nhiên ?
Toại lệnh ngã lâu thiên.
Thệ tướng trạch tư vũ,
Khả dĩ tận thiên niên.
9. Võ Tắc Thiên
Http://files.myopera.com/himawari/al..._tac_thien.jpg
Nữ hoàng Võ Tắc Thiên đại đế (624 – 705), cổ vãng kim lai duy chỉ có 1 người này. Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cũng có các tiểu nữ hoàng khác từng ngồi trên bảo tọa của hoàng đế, nhưng các quan điểm hiện nay chỉ xem Võ Tắc Thiên là nữ hoàng duy nhất, bởi vì bà lên ngôi hoàng đế bằng chính thực lực của bản thân, không phải là tượng gỗ nghe theo sự điều khiển của kẻ khác
10. Thượng Quan Uyển Nhi
Http://files.myopera.com/himawari/al...n_uyen_nhi.jpg
Thượng Quan Uyển Nhi
Cháu gái Thượng Quan Nghị, hiệu xưng là Cân Quốc Thủ Tướng đầu tiên. Thời Đường Cao Tông, cháu gái tể tướng Thượng Quan Nghị là Thượng Quan Uyển Nhi, thông thuộc thi thư, không những biết ngâm thơ viết văn mà còn hiểu biết chuyện xưa nay, thông minh mẫn tiệp dị thường.
11. Liễu Như Thị
Http://files.myopera.com/himawari/al...eu_nhu_thi.jpg
12. Tả Phấn
Http://files.myopera.com/himawari/al...76/ta_phan.jpg
13. Lý Hương Quân
Http://files.myopera.com/himawari/al...huong_quan.jpg
14. Triệu Phi Yến
Http://files.myopera.com/himawari/al...eu_phi_yen.jpg
Hậu
Http://files.myopera.com/himawari/al..._hoang_hau.jpg
Sau khi Tào Phi xưng đế, sủng hạnh Quách hoàng Hậu, Quách Hậu cậy đắc sủng nên gièm pha Chân hoàng Hậu, từ đó Chân hoàn Hậu thất sủng. Sau khi bị vua bỏ lơ không nói đến, từ “Đường Thượng Hành” có thể đọc thấy được lòng tương tư cực chí của một người vợ đối với trượng phu, một lòng thâm tình vô hối. Sự chờ đợi của Chân hoàng Hậu đáng thương cuối cùng chỉ là một tờ giấy chết của Tào Phi. Thậm chí sau khi chết, thi thể phải lấy tóc che mặt, lấy trấu lấp miệng, chịu nỗi khổ vũ nhục và lăng ngược.
Đường Thượng Hành
Bồ sinh ngã trì trung, kỳ diệp hà li li.
Bàng năng hành nhân nghĩa, mạc nhược tiếp tự tri.
Chúng khẩu thước hoàng kim, sử quân sinh biệt li.
Niệm quân khứ ngã thời, độc sầu thường khổ bi.
Tưởng kiến quân nhan sắc, cảm kết thương tâm ti.
Niệm quân thường khổ bi, dạ dạ bất năng mị.
16. Hoa Nhị phu nhân
Http://files.myopera.com/himawari/al...i_phu_nhan.jpg
Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn từng ngưỡng mộ tài danh của Hoa Nhị Phu Nhân. Hoa Nhị Phu Nhân là Phí Quý Phi của Hậu Thục Hậu Chủ - Mạnh Xưởng, xuất thân là 1 ca kỹ ở Thanh Thành (nay ở phía Đông Nam thành phố Giang Yển). Tương truyền “Hoa Nhị Phu Nhân Cung Từ” có hơn 100 biến, trong đó thật ra chỉ có hơn 90 biến. Khi Tống diệt Hậu Thục, chỉ dùng có 1 vạn quân, 14 vạn quân Hậu Thục không chiến mà hàng, Hoa Nhị Phu Nhân theo Mạnh Xưởng lưu vong về phương bắc, đêm nghỉ ở Gia Minh dịch trạm, cảm hoài nỗi buồn nước mất nhà tan, đề lên vách quán bài “Thái Tang Tử”. Nhưng vì quân kỵ thôi thúc nên bị mất hết một nửa, cứ viết được 1 chữ lại rơi lệ.
Thái Tang Tử
Sơ li thục đạo tâm tướng toái,
Li hận miên miên.
Xuân nhật như niên,
Mã thượng thời thời văn đỗ quyên.
17. Hầu phu nhân
Http://files.myopera.com/himawari/al...u_phu_nhan.jpg
Tùy Dạng Ðế Dương Quảng tại vị, quảng cáo cao lâu, bắt hàng ngàn thiên hạ mỹ nữ nhốt vào trong ðó, Hầu Phu Nhân chính là 1 trong số hàng ngàn cung nữ đó mà suốt cả cuộc đời cũng chưa hề gặp được Tùy Dạng Ðế, cuối cùng tự ải mà chết.
18. Đường Uyển
Http://files.myopera.com/himawari/al...duong_uyen.jpg
--------------------------------------------------------------------------------
Típ nữa thêm mấy cô cũng đẹp hít chỗ chê
Ban Tiệp Dư
Ban Tiệp Dư là con nhà danh môn, còn trẻ đã học thành tài, thời Hán Thành Đế được lập làm Tiệp Dư. Chị em Triệu Phi Yến sau khi đắc sủng, ganh ghét tài năng phẩm hạnh của Ban Tiệp Dư, Ban Tiệp Dư ngày đêm lo sợ nên xin theo hầu thái Hậu ở cung Trường Tín. Có thể bài “Đoàn Phiến Thi” được sáng tác tại cung Trường Tín, bài thơ nhỏ này dùng từ thái mới mẻ, tình như ai oán, biểu hiện thật ủy uyển hàm súc, có một loại khí độ oán mà không giận.
Chu Thục Chân
Nữ từ nhân nổi tiếng thời Đường, hiệu xưng U Thê Cư Sĩ, được biết là một tài nữ người ở Tiền Đường thời Tống, thi từ đều giỏi, đương thời chỉ có nàng mới xứng tề danh với Lý Thanh Chiếu. Tác phẩm tiêu biểu có “Đoạn Trường Tập” và “Đoạn Trường Từ” được lưu truyền, nổi tiếng nhất là “Điệp Luyến Hoa”.
Chu Thục Chân có cuộc đời khá u sầu. Nguyên nàng có một ý trung nhân lý tưởng, cũng là người tài hoa mà nàng tự quen biết. Nhưng phụ mẫu không cho phép nàng kết hôn với ý trung nhân của mình, mà gả nàng cho 1 thương nhân. Chồng nàng là người chỉ biết kiếm tiền, đối với thi từ và tranh vẽ của nàng đều không có hứng thú, vì vậy mà cuộc sống của nàng lúc nào cũng đầy u sầu và tẻ nhạt.
Quách Ái
Vì sự ích kỷ của các đời đế vương, quảng thúc mỹ nữ, nhốt trong Hậu cung đã làm hại thanh xuân, hạnh phúc và tính mệnh của biết bao thiếu nữ. Nếu có kiếp sau, chắc chắn họ sẽ hy vọng được gả vào một nhà bình thường, trên còn phụ mẫu, dưới có nhi nữ, họ cũng cam tâm tình nguyện đắm chìm trong ngọn lửa yêu thương của thê chức mẫu chức trên nhân gian, tháng năm dần qua cho đến một ngày kia họ lạc hạ hoàng tuyền, tức là kiếp này đã dứt.
Lý Sư Sư
Tư ái của Tống Huy Tông (bồ nhí).
(NM: Rất nổi tiếng trong tác phẩm Thủy Hử. Nghe đâu là người iu của Lãng Tử Yến Thanh )
--------------------------------------------------------------------------------
Trần Viên Viên
Trần Viên Viên là mỹ nhân đã gián tiếp khiến giang sơn Trung Hoa rơi vào tay giặc Thát từ quan ngoại.
Nghe nói do Ngô Tam Quế hận không lấy được nàng, đã dẫn quân Thanh vào cửa quan, để dành lại người đẹp. Vì vậy không phải do nàng trực tiếp gây ra cảnh sinh linh đồ thán đó, nhưng vẫn bị người của mấy đời sau phỉ nhổ
Lý Thanh Chiếu
Lý Thanh Chiếu, hiệu “Dịch An Cư Sĩ”, người Sơn Đông - Lịch Thành thời Tống (nay là Sơn Đông - Tế Nam). Cha là Lý Cách Phi, làm quan đến Lễ Bộ Viên Ngoại Lang, một người học vấn uyên bác. Mẹ là Vương Thị, cũng là một người biết thơ văn. Lý Thanh Chiếu được cha dạy ngâm thơ, viết từ và tản văn từ nhỏ. 18 tuổi được gả cho Triệu Minh Thành, cũng là một người có học vấn. 2 vợ chồng cùng sinh hoạt, cùng học tập, cuộc sống rất tình thú. Khi quân Kim diệt Tống, vợ chồng Lý Thanh Chiếu chạy xuống phương nam lánh nạn. Năm 1129, Triệu Minh Thành được phái đến Hồ Châu nhậm chức, đi đến Kiến Khang thì qua đời, Lý Thanh Chiếu phải bôn ba đến Chiết Giang nương nhờ em trai là Lý Kháng. Về sau cùng với Lý Kháng phiêu bạc qua Việt Châu, Đài Châu, Hàng Châu và Kim Hoa.
Sinh đang tác nhân kiệt, tử diệc vi quỷ hùng.
Chí kim tư Hạng Vũ, bất khẳng quá Giang Đông.
Hoàng Nga
Vệ tử phu
Nổi tiếng khắp thiên hạ vì mái tóc đen và đẹp.
TrungX: bài của em 1 số link bj lỗi, nếu có thể em tìm để thay vào ( những link đủ anh sửa để hình hiện lên luôn rồi ). Và chú ý copy cẩn thận, không lấy nhận xét của admin 4rum gốc.
.
Các bài viết cùng chuyên mục:
Đánh dấu